Hôm nay, thứ 7 24/06/2017
Tìm kiếm:  


TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ -XÃ HỘI TỈNH NINH BÌNH SAU 20 NĂM ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN
Trải qua hai thập kỷ, kể từ ngày tái lập tỉnh 1/4/1992 đến nay, Đảng bộ quân và dân Ninh Bình tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng, Nhà nước khởi xướng. Kết quả nền kinh tế của tỉnh đã có bước phát triển khá, tạo bước đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội toàn diện, vững chắc; tiếp tục thực hiện xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, giảm các tệ nạn xã hội; tăng cường công tác quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững chắc.
Điểm xuất phát của Ninh Bình khi mới được tái lập là rất thấp; cơ sở vật chất - kỹ thuật hạ tầng của nền kinh tế lạc hậu, cũ nát và rệu rã; đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tình trạng thiếu đói ở khu vực nông thôn vẫn còn nhiều... Tuy nhiên, bên cạnh khó khăn, còn có những thuận lợi rất cơ bản. Đường lối đổi mới do Đảng đề ra được triển khai và bước đầu đã phát huy tác dụng tích cực. Kinh nghiệm tổ chức, quản lý và điều hành nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được tích luỹ. Các đơn vị kinh tế cơ sở sau thời gian lúng túng đã dần dần thích nghi được với cơ chế quản lý mới... Tất cả những điều đó, cùng với tinh thần phấn khởi sau khi tỉnh được tái lập, kinh nghiệm, tinh thần đoàn kết và lòng tin để quân và dân Ninh Bình tiếp tục sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
1.Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đã đạt được trong giai đoạn 1992-2011 là:
1- Giá trị GDP năm 2011 (Giá so sánh 1994) đạt 8.136,9 tỉ đồng, gấp 11,5 lần năm 1991.
2- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (Giá so sánh 1994) đạt 2.161,8 tỉ đồng, gấp gần 3,2 lần năm 1991.
3- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng (Giá so sánh 1994) đạt 18.142,7 tỉ đồng, gấp 52,6 lần năm 1991. Riêng sản xuất công nghiệp đạt 12.826,6 tỉ đồng, gấp 42,2 lần năm 1991.
4- Cơ cấu kinh tế:
+ Tỉ trọng khu vực I (nông, lâm, thuỷ sản) giảm dần từ 61,0% năm 1991 xuống còn 43,6% năm 2000 và chỉ còn 15% năm 2011.
+ Tỉ trọng khu vực II (công nghiệp, xây dựng) từ 18,9% năm 1991 tăng lên 26,2 % năm 2000 và đạt 49% năm 2011.
+ Tỉ trọng khu vực III (các ngành dịch vụ) tương ứng là : 20,1%; 30,2% và 36%.
5- GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 25 triệu đồng gấp 48,5 lần năm 1991.
6- Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 21.410 tỉ đồng, gấp 697 lần năm 1991.
7- Sản lượng lương thực có hạt (thóc + ngô) năm 2011 đạt hơn 51,4 vạn tấn gấp hơn 2,6 lần năm 1991.
8- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 3.392,1 tỉ đồng, gấp gần 138,9 lần năm 1991. Trong đó: Thu từ thuế, phí, lệ phí đạt 1.678 tỉ đồng; Thu từ đất đạt 1.114 tỉ đồng; Thu từ xuất, nhập khẩu tăng 600 tỉ đồng.
9- Trị giá hàng xuất khẩu đạt 263,7 triệu USD, gấp 140,7 lần năm 1991.
10- Số khách đến các điểm tham quan du lịch đạt 3,6 triệu khách, trong đó khách du lịch lưu trú là 233,8 nghìn lượt.
11- Đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân ổn định, từng bước được cải thiện. Các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao có sự chuyển biến tích cực. An ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Đến năm 2011: 55% số trường mầm non, 58% số trường trung học cơ sở, 14,8% số trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia, riêng trường tiểu học có 20,5% số trường đạt chuẩn mức độ 2. Tỉ lệ dân số được dùng nước sạch hợp vệ sinh ở khu vực nông thôn là 85% và ở khu vực thành thị là 92%. Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi năm 2011 giảm xuống chỉ còn 16,4%; Tỉ lệ lao động được đào tạo nghề là 31%; Tỉ lệ hộ nghèo năm 2011 là 9,86 % (theo tiêu chí giai đoạn 2011-2015).
Những điểm nổi bật của phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh sau 20 năm tái lập (1992-2011) là:
2. Kinh tế tăng trưởng liên tục và đạt tốc độ tăng khá
Trong thời gian 20 năm qua từ năm 1992 đến năm 2011, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh tăng liên tục qua các năm; bình quân hàng năm trong thời kì 1992-1995 đạt tốc độ tăng 13,3%, thời kì 1996-2000 đạt 9,6%, thời kì 2001-2005 đạt 13,1% và thời kì 2006-2011 đạt 15,7%. Nhờ vậy đến năm 2011 tổng sản phẩm trên địa bàn đạt gần 8.136,9 tỉ đồng (giá so sánh 1994) gấp gần 2,4 lần năm 2005, gấp hơn 4,4 lần năm 2000, gấp gần 7 lần năm 1995 và gấp 11,5 lần năm 1991. Không những đạt và vượt mục tiêu tổng quát (tốc độ tăng trưởng kinh tế) do các lần Đại hội tỉnh Đảng bộ đề ra mà còn đạt tốc độ bình quân hàng năm cao hơn tốc độ tăng của cả nước.
3. Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, đồng thời có sự chuyển dịch giữa các thành phần kinh tế và các vùng trong tỉnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Sau 20 năm từ một tỉnh thuần nông bước đầu đã hình thành rõ nét nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Năm 2011, giá trị tăng thêm khu vực ngành công nghiệp - xây dựng đã chiếm 49%, dịch vụ 36%, nông nghiệp chỉ còn 15%, trong khi năm 1991 các tỉ lệ đó lần lượt là: công nghiệp - xây dựng 18,9%, dịch vụ 20,1%, nông nghiệp tới 61%.
Nền kinh tế từng bước có sự chuyển dịch theo hướng hình thành các vùng động lực phát triển kinh tế của tỉnh, vùng chuyên canh và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp như: vùng chuyên canh cây lúa chất lượng cao ở Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô; chuyên canh cây dứa ở thị xã Tam Điệp; Cây lạc ở Nho Quan… Các khu, cụm công nghiệp ở thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp, huyện Hoa Lư, Gia Viễn.
Với việc thực hiện các chính sách kinh tế thông thoáng, huy động và tạo điều kiện cho các loại hình kinh tế phát triển để huy động tổng lực của nền kinh tế. Các doanh nghiệp Nhà nước được tổ chức, sắp xếp lại, nhiều doanh nghiệp được cổ phần hoá hoặc giao khoán cho người lao động nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Bên cạnh đó tạo môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, thông thoáng để khuyến khích các doanh nghiệp ngoài nhà nước phát triển cả số lượng và qui mô, nhiều doanh nghiệp có dự án lớn như nhà máy xi măng Vinakansai, nhà máy cán thép POMIHOA, nhà máy xi măng Hướng Dương, nhà máy xi măng Duyên Hà, nhà máy kính nổi, công ty may Đài Loan, công ty may Nienshing… đã có những đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Năm 2011 trong tổng sản phẩm trên địa bàn toàn tỉnh: Kinh tế Nhà nước chiếm 21,7%, kinh tế tập thể chiếm 7,9%, kinh tế cá thể chiếm 29,6%, kinh tế tư nhân chiếm 40,2%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 0,6%. Năm 1991 các tỉ lệ đó lần lượt là: kinh tế nhà nước 22,9%, kinh tế tập thể chiếm 36,6%, kinh tế tư nhân chiếm 0,9%, kinh tế cá thể chiếm 39,6%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không có.
Do kết quả cơ cấu kinh tế được điều chỉnh, nên lực lượng lao động giữa các khu vực cũng có nhiều thay đổi. Năm 1991: tỉ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tới 84,3%; Lao động khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tỉ lệ chỉ chiếm lần lượt là: 7,5 và 8,2%. Đến năm 2011: Tỉ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chỉ còn chiếm 46,1%; Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng lên 33,2% và khu vực dịch vụ là 20,7%.
4. Sản xuất công nghiệp - xây dựng
 Sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển trở thành động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong hơn 20 năm qua ngành công nghiệp Ninh Bình tập trung củng cố, tổ chức lại sản xuất tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật nâng cao năng lực sản xuất để khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh như sản xuất vật liệu xây dựng, sản phẩm dệt may… Nhiều dự án lớn đã đưa vào sản xuất ổn định như: các nhà máy sản xuất xi măng, clanhke (Nhà máy xi măng Tam Điệp, Nhà máy xi măng VINAKANSAI (THE VISSAI), Nhà máy xi măng Hướng Dương, Nhà máy xi măng Duyên Hà…); Nhà máy lắp ráp ô tô Thành Công; Nhà máy sản xuất kính nổi, Nhà máy sản xuất giày ADORA, Công ty TNHH cán thép POMIHOA…
Cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất công nghiệp được tăng cường, vai trò và tiềm năng của các khu vực và các thành phần kinh tế trong công nghiệp được phát huy, sản xuất đạt tốc độ tăng cao góp phần quan trọng vào tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu chung của toàn bộ nền kinh tế của tỉnh. Tỉnh đã tập trung chỉ đạo tăng cường vốn đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp, tỉ trọng vốn đầu tư cho công nghiệp chiếm khá cao trong tổng vốn đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh. Trong 20 năm qua vốn đầu tư phát triển cho riêng ngành công nghiệp là gần 38,2 nghìn tỷ đồng, trong đó năm 2010 là gần 10,7 nghìn tỷ đồng và năm 2011 là gần 9,5 nghìn tỷ đồng.
Kết quả sản xuất công nghiệp trong 20 năm qua (1992-2011) đã đạt được nhiều thành tựu lớn, nhất là những năm gần đây, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của toàn bộ nền kinh tế của tỉnh. Sản xuất công nghiệp liên tục phát triển, năm sau đạt cao hơn năm trước, càng giai đoạn sau càng đạt tốc độ tăng trưởng cao. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh có bước chuyển biến tích cực cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng. Nhiều giải pháp huy động các nguồn lực, tập trung phát triển những sản phẩm có ưu thế cạnh tranh được thực hiện hiệu quả, chất lượng nhiều sản phẩm tăng lên đáng kể do được đầu tư các công nghệ sản xuất mới. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đã trở thành lĩnh vực mũi nhọn, trong đó sản xuất xi măng, thép cán là những sản phẩm chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn. Bên cạnh đó các sản phẩm ngành dệt may, giày vải cũng đóng góp không nhỏ vào việc khai thác nguồn nhân lực sẵn có của địa phương. Các nhà máy của các công ty may Đài Loan, Niensheng, Levis… đi vào sản xuất ổn định đã góp phần giải quyết công ăn, việc làm cho hàng vạn lao động tại địa phương, đồng thời thu hút nguồn nhân lực của các tỉnh lân cận.
 Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh năm 2011 ước đạt 12.826,6 tỉ đồng (giá so sánh 1994), gấp gần 42 lần năm 1991, bình quân mỗi năm trong cả thời kỳ 1992-2011 đạt tốc độ tăng 20,5%; Trong đó bình quân mỗi năm thời kỳ 1992-1995 đạt tốc độ tăng 7,1%, thời kỳ 1996-2000 đạt tốc độ tăng 18,3%, thời kỳ 2001-2005 tăng 26,8% và thời kỳ 2006-2011 tăng 27,1%.
Năm 2011 sản lượng xi măng và clanke đạt 8.840,3 nghìn tấn, gấp gần 7,6 lần so với năm 2005, gấp 70 lần so với năm 2000, gấp gần 177,9 lần so với năm 1995 và gần 674,8 lần so với năm 1991, bình quân thời kỳ 1991-2011 tăng 38,5%/ năm. Đá khai thác đạt 5.902,3 nghìn m3, so với năm 2005 gấp hơn 3,5 lần; gấp 5,7 lần năm 2000, gấp 7,7 lần năm 1995 và gấp gần 16,51 lần năm 1991, bình quân thời kỳ 1991-2011 tăng 15,1%/ năm. Phân lân nung chảy đạt 268,2 nghìn tấn, bình quân thời kỳ 1991-2012 tăng 14,2%. Bê tông đúc sẵn đạt 33 nghìn m3, gấp 13,2 lần năm 1991, bình quân tăng 13,8%/ năm. Gạch đất nung đạt 505,5 triệu viên, gấp 11,6 lần năm 1991 và tăng bình quân 13%/ năm. Bia hơi đạt 2.449 nghìn lít, gấp gần 22,3 lần năm 1991 và tăng bình quân 16,8%/ năm. Chiếu cói đạt 5.145,1 nghìn chiếc, gấp 59,1 lần và tăng bình quân 22,6%/ năm. Quần áo các loại đạt gần 27,5 triệu cái, gấp 7,9 lần năm 1991, bình quân hàng năm tăng 24,4%. Điện sản xuất đạt 695,6 Tr/KWh, gấp gần 2,7 lần so với năm 1991, bình quân tăng 5,1%/ năm. Nước máy thương phẩm đạt hơn 6,7 triệu m3, gấp 4,5 lần so với năm 1991, bình quân hàng năm tăng 7,8%. Bên cạnh đó các sản phẩm mới của các dự án sau thời gian đầu tư xây dựng đã đi vào sản xuất ổn định và có giá trị sản xuất cao như: lắp ráp xe ô tô 4 chỗ đạt 2.582 chiếc; kính nổi đạt gần 7,2 triệu m2; cần gạt nước ô tô đạt trên 7,3 triệu cái; Giày, dép vải đạt 10,8 triệu đôi (Đây là những sản phẩm mà năm 1991 chưa có).
Công nghiệp phát triển đã tạo thêm việc làm cho người lao động. Trong hơn 20 năm qua, cơ chế quản lý nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế mới, sản xuất công nghiệp đã được bung ra, phát triển với nhiều thành phần kinh tế. Số lượng cơ sở công nghiệp tăng khá nhanh, nhất là khu vực công nghiệp ngoài Nhà nước đang được khuyến khích phát triển, đặc biệt là loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Số lượng cơ sở công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh năm 2011 là gần 37,7 nghìn cơ sở, gấp gần 13,4 lần năm 1991; Bình quân hàng năm thời kỳ 1992-2011 tăng 13,9%. Trong đó chủ yếu là cơ sở công nghiệp ngoài nhà nước là 37.658 cơ sở (chiếm 99,9% ), 14 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài.
Đi đôi với việc số lượng cơ sở công nghiệp tăng nhanh trong thời gian vừa qua đã tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh. Số lao động làm việc trong các cơ sở công nghiệp trong hơn 20 năm qua đã tăng đáng kể, từ 20,9 nghìn người năm 1991 tăng lên gần 33 nghìn người năm 1995, hơn 45,1 nghìn người năm 2000, gần 66,3 nghìn người năm 2005 và gần 112,4 nghìn người năm 2011. Như vậy từ năm 1991 đến năm 2011 số người làm việc trong các cơ sở công nghiệp đã tăng gần 91,5 nghìn lao động (bình quân mỗi năm tăng gần 4,6 nghìn lao động, tốc độ tăng bình quân 8,8%/ năm), trong đó các cơ sở cá thể tăng gần 48,9 nghìn người, tư nhân tăng hơn 30,7 nghìn người. Riêng khu vực tập thể (hợp tác xã) giảm hơn 1,5 nghìn người.
Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, Tỉnh đã đề ra nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư thông thoáng để đẩy mạnh thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp.
Đến nay, toàn tỉnh có 5 khu công nghiệp gồm: Khu công nghiệp Gián Khẩu, Khu công nghiệp Khánh Phú, Khu công nghiệp Tam Điệp, Khu công nghiệp Khánh Cư, Khu công nghiệp Phúc Sơn đang được triển khai xây dựng và đi vào hoạt động với gần 70 dự án, tổng diện tích đất là 1.497 ha, với tổng vốn đầu tư là 30.046 tỷ đồng. Về cụm công nghiệp, toàn tỉnh có 21 cụm công nghiệp với tổng diện tích trên 671,7 ha. Đến nay, tỷ lệ lấp đầy của Khu công nghiệp Gián Khẩu đạt 100%; Khánh Phú đạt 95,4%; Khu công nghiệp Tam Điệp đạt 51,5%... Các dự án trong khu công nghiệp đã đi vào hoạt động vẫn tiếp tục duy trì sản xuất ổn định. Một số dự án lớn đang tích cực đầu tư để đưa vào sản xuất là: Nhà máy Đạm Ninh Bình, nhà máy thép chất lượng cao (ở khu công nghiệp Khánh Phú), nhà máy ô tô Thành Công…
4.2. Xây dựng
Cùng với sự tăng trưởng của vốn đầu tư phát triển trên địa bàn toàn tỉnh và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế của tỉnh, ngành xây dựng đã có sự phát triển mạnh về số lượng và qui mô, nhiều doanh nghiệp đã trở thành tập đoàn và doanh nghiệp có năng lực xây dựng và đảm nhiệm nhiều công trình lớn, trọng điểm của tỉnh cũng như của các địa phương khác. Năm 2011, giá trị sản xuất (giá so sánh 1994) đạt trên 5.316,1 tỷ đồng, gấp gần 112,8 lần năm 1991, bình quân hàng năm thời kỳ 1992-2011 đạt 26,7%.
4.3. Thực hiện vốn đầu tư phát triển
 Những năm trước khi tỉnh được tái lập, khi đó còn chung tỉnh Hà Nam Ninh thì vốn đầu tư vào Ninh Bình rất nhỏ bé, chủ yếu tập trung vào việc nâng cấp tu bổ đê điều và một số hồ đập phục vụ sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp. Năm 1991 tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh chỉ đạt 30,7 tỉ đồng, trong đó đầu tư tập trung chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp chiếm 86,7% còn lại đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ chỉ chiếm 13,1%. Sau khi tỉnh được tái lập vốn đầu tư tăng nhanh, đầu tư cho lĩnh vực nông - lâm - thuỷ sản vẫn tiếp tục được chú trọng, giá trị vốn đầu tư vẫn tăng nhưng tỉ trọng đầu tư vào khu vực này giảm dần. Đồng thời tỉ trọng đầu tư cho khu vực công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, nhất là những năm gần đây nhiều dự án công nghiệp lớn được đầu tư để khai thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh thì tổng vốn đầu tư đều ở mức trên 15 nghìn tỷ đồng/năm.
Năm 2011 tổng vốn đầu tư phát triển của tỉnh đạt gần 21.410,9 tỉ đồng, gấp 697 lần năm 1991, bình quân hàng năm thời kì 1992-2011 tăng 38,7%, trong đó thời kì 2001-2011 tăng 43,9%. Trong đó: Đầu tư cho lĩnh vực nông - lâm - thuỷ sản đạt 2.181 tỉ đồng, gấp gần 82 lần năm 1991, bình quân hàng năm tăng 24,6%; Đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp - xây dựng đạt 15.710,6 tỉ đồng, gấp hơn 10.350 lần, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 58,8%; Đầu tư cho khu vực dịch vụ đạt gần 3.519,3 tỉ đồng, gấp 136,4 lần, bình quân tăng 43,5%/năm. Cơ cấu vốn đầu tư có nhiều thay đổi, khu vực nông - lâm - thuỷ sản năm 1991 chiếm 86,7% giảm dần xuống 10,2% năm 2011; Ngành công nghiệp - xây dựng năm 1991 từ 4,9% đến năm 2011 tăng lên 73,4%; Khu vực dịch vụ từ 8,4% năm 1991 tăng lên 16,4% năm 2011.
Đến nay, nhiều công trình trọng điểm đã được đầu tư hoàn thành và đưa vào sản xuất trong thời gian qua là: Nhà máy xi măng Tam Điệp với công suất 1,4 triệu tấn/năm; nhà máy xi măng The VISSAI: 2 dây chuyền với tổng công suất 3,4 triệu tấn/năm; nhà máy xi măng Hướng Dương 2 dây chuyền với công suất 2 triệu tấn/năm; nhà máy xi măng Duyên Hà công suất gần 2,4 triệu tấn/năm; Nhà máy giày ADORA công suất 10 triệu sản phẩm/năm; Nhà máy kính nổi công suất 108 nghìn tấn/năm; Nhà máy lắp ráp ô tô Thành Công công suất 13 nghìn xe/năm; Công ty TNHH cán thép POMIHOA công suất 360 nghìn tấn/ năm…
Bên cạnh đó, các công trình trọng điểm trong các khu, cụm công nghiệp đang được tiếp tục gấp rút đầu tư để đưa vào sản xuất trong thời gian tới như: Nhà máy xi măng Hệ Dưỡng (công suất thiết kế 3,6 triệu tấn/năm), Nhà máy phân đạm Ninh Bình công suất 560 nghìn tấn/năm; Dự án nhà máy luyện cán thép chất lượng cao công suất 1 triệu tấn phôi thép vuông/năm và 500.000 tấn thép hợp kim dự ứng lực/năm (ở khu công nghiệp Khánh Phú).
Như vậy, với nhiều chính sách ưu đãi thu hút vốn đầu tư, ngoài việc tập trung đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Trung ương, ngân sách Địa phương, Tỉnh cũng đã thành công trong việc huy động các nguồn vốn từ doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và vốn trong dân cư để tập trung đầu tư cho xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho phát triển kinh tế cũng như các công trình phục vụ đời sống dân cư. Đặc biệt, trong thời gian qua nhờ sự tập trung đầu tư các công trình trọng điểm sản xuất công nghiệp: như các nhà máy sản xuất xi măng, thép, ô tô, may mặc… Các công trình công nghiệp này hoàn thành đã góp phần tích cực trong việc tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa tỉnh ta dần trở thành tỉnh công nghiệp khai thác tốt các tiềm năng thế mạnh của tỉnh.
5. Các ngành dịch vụ phát triển trong đó du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
5.1. Hoạt động thương mại và giá cả
Về cơ sở kinh doanh: Việc đa dạng hoá thành phần kinh doanh thương mại trong cơ chế thị trường đã làm tăng năng lực phục vụ, đẩy nhanh tốc độ, tăng khối lượng hàng hoá lưu thông, đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội.  Năm 2011 có 778 doanh nghiệp tư nhân và 30.562 cơ sở kinh doanh cá thể. Kinh doanh thương nghiệp, So với năm 1992 số doanh nghiệp tư nhân gấp 26,8 lần, bình quân hàng năm tăng 18,9%; số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể gấp 5,8 lần, bình quân hàng năm tăng 9,7%.
Hệ thống chợ được phân bố và phát triển đều khắp cả thành thị và nông thôn, bên cạnh đó đã phát triển các siêu thị để đảm bảo cung cấp hàng hoá phục vụ đời sống và sinh hoạt của nhân dân
Nhìn tổng thể, mạng lưới kinh doanh thương mại có mặt ở hầu hết các địa bàn dân cư trong cả tỉnh, lấy địa bàn dân cư làm thị trường kinh doanh phục vụ, nhất là lực lượng thương mại cá thể.
 Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội năm 2011 đạt 13.971,8 tỉ đồng, gấp 82,4 lần năm 1991, bình quân mỗi năm thời kì 1992-2011 tăng 24,7%.
5.2. Du lịch
Ninh Bình từ lâu với tài nguyên du lịch phong phú, nhưng những thập niên trước đến khi tái lập tỉnh năm 1992 du lịch và các hoạt động du lịch phần lớn chỉ được xem là những hoạt động công cộng phục vụ đời sống văn hoá, tinh thần, vui chơi, giải trí và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, đây có thể gọi là giai đoạn sơ khai của du lịch Ninh Bình. Đến nay Ninh Bình đã thật sự trở thành sự lựa chọn, điểm đến của nhiều du khách trong và ngoài nước.
Thực hiện NQ 15/NQ-TU của Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, kết cấu hạ tầng du lịch được tăng cường, tạo ra bước phát triển mới có tính đột phá, tập trung chủ yếu là du lịch tâm linh và du lịch sinh thái. Các dự án trọng điểm như khu du lịch Tràng An, Bái Đính, Tam Cốc - Bích Động; khu du lịch lịch sử - văn hoá Cố đô Hoa Lư; các công trình phục vụ Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội; hồ Đồng Chương, Yên Thắng; khu du lịch sinh thái đất ngập nước Vân Long được tập trung đầu tư xây dựng. Chính sách khuyến khích xây dựng cơ sở lưu trú từng bước phát huy tác dụng, các cơ sở lưu trú phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng.
Số lượng cơ sở kinh doanh và phục vụ hoạt động du lịch tăng nhanh, thu hút và giải quyết được nhiều lao động. Đến năm 2011 có 4.835 cơ sở kinh doanh và phục vụ du lịch, trong đó 201 cơ sở lưu trú, 9 cơ sở lữ hành, 4.625 cơ sở ăn uống. So với năm 2005 số cơ sở tăng 73%, trong đó lưu trú gấp 2,5 lần, lữ hành gấp 9 lần, ăn uống tăng 70%; Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006-2011 về số cơ sở là 7,5%.
Đến năm 2011 tổng số lượt khách đến các điểm, khu du lịch Ninh Bình là 3,6 triệu người, trong đó khách Việt Nam là 2,9 triệu, chiếm 81,5%, khách Quốc tế là gần 700 nghìn chiếm 18,5%. So với năm 2005 tổng số khách gấp 3,6 lần, trong đó khách Việt Nam gấp gần 5 lần và khách Quốc tế gấp 1,6 lần. So với năm 1992 thì gấp 564 lần, trong đó khách Việt Nam gấp 469 lần và khách Quốc tế gấp 5.297 lần (Năm 1992 tổng số khách là 6.380 người, trong đó khách Việt Nam 6.254 người, khách quốc tế 126 người). Bình quân thời kì 1992-2011 số lượt khách đến các điểm tham quan du lịch tăng 39,6%, trong đó khách Việt Nam tăng 38,2%, khách quốc tế tăng 57%; Riêng thời kì 2006-2011, số lượt khách du lịch đến Ninh Bình tăng 23,6%, trong đó khách Việt Nam tăng 30,6%, khách Quốc tế tăng 8%.
Số ngày khách lưu trú năm 2011 đạt 376,2 nghìn ngày khách gấp gần 4 lần năm 1996, gấp 6,1 lần năm 2000, gấp hơn 1,4 lần năm 2005. Bình quân thời kì 1996-2011 tăng 9%, trong đó thời kì 2001-2011 tăng 17,9%.
Doanh thu hoạt động du lịch ngày càng tăng. Chất lượng các sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch trên địa bàn ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách du lịch trong và ngoài nước. Trong đó phải kể đến các dịch vụ như: khách sạn, vận chuyển hành khách, dịch vụ ăn uống, hàng hoá, dịch vụ viễn thông, ngân hàng, dịch vụ vui chơi giải trí, các hoạt động xúc tiến quảng bá giới thiệu du lịch. Doanh thu từ hoạt động du lịch năm 2011 đạt 655,2 tỷ đồng, bình quân hàng năm thời kì 1992-2011 tăng 32,3%.             
Cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch ngày càng được nâng cao. Nhiều công trình có tổng mức vốn đầu tư lớn như: Khu du lịch Tràng An, khu du lịch cao cấp ANMANDARA, trung tâm thể thao sân golt 54 lỗ Yên Thắng, khu nghỉ dưỡng Resort Cúc Phương, khách sạn Hoàng Sơn, khách sạn Legent (Thuỳ Anh), khách sạn Quang Dũng.
Đến năm 2011 tổng số cơ sở lưu trú là 201 cơ sở với 2.562 phòng và 4.090 giường, trong đó có 32 khách sạn đạt tiêu chuẩn sao với 1.162 phòng. Như đã nói ở trên, năm 2005 chưa có cơ sở lưu trú nào đạt tiêu chuẩn 3 sao thì đến năm 2011 đã có 3 cơ sở với 226 phòng và 359 giường, đối tượng phục vụ chủ yếu là khách du lịch cao cấp, có mức chi tiêu lớn.
 Mặt khác, từ kết quả hoạt động kinh doanh du lịch đã góp phần thúc đẩy ngành tiểu thủ công nghiệp của tỉnh phát triển như nghề thêu ren, đan lát hàng cói, thủ công mỹ nghệ là những nghề tạo ra những sản phẩm bán hàng lưu niệm cho khách đến tham quan du lịch, nhất là cho khách nước ngoài.
5.3. Xuất khẩu tăng trưởng mạnh
Trong 20 năm qua, hoạt động xuất nhập khẩu đã có nhiều cố gắng trong việc mở rộng sản xuất, khai thác mặt hàng, mở rộng thị trường. Sau khi hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu tan rã, thị trường truyền thống ở khu vực này bị xáo trộn, thị trường xuất nhập khẩu bị thu hẹp. Song do năng động, chuyển hướng kịp thời trong hoạt động xuất nhập khẩu của Ninh Bình đã thiết lập quan hệ với nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Italia, Đài Loan... sau này lại nối lại quan hệ với các nước Đông Âu nhất là Nga, gần đây là Mỹ.
Kết quả là trị giá hàng xuất khẩu tăng đáng kể: tổng trị giá xuất khẩu năm 2011 đạt 263,7 triệu USD, gấp 140,7 lần năm 1991, bình quân thời kì 1992-2011 mỗi năm tổng kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng 28,1%, trong đó thời kì 2006-2011 đạt tốc độ tăng mạnh nhất là 51,4%. Trong tổng giá trị xuất khẩu, xuất khẩu Trung ương đạt gần 6,4 triệu USD, chiếm 2,4% trong tổng trị giá xuất khẩu; Xuất khẩu địa phương đạt 257,3 triệu USD, chiếm tới 97,6%. Bên cạnh những mặt hàng thủ công truyền thống như thảm cói, hàng thêu, thịt lợn đông lạnh, đến nay nhiều mặt hàng mới có giá trị xuất khẩu cao như hàng dệt may, giày vải, xi măng… Năm 2011 quần áo may sẵn xuất khẩu đạt 23,7 triệu sản phẩm, gấp gần 193,3 lần năm 1992; giày vải đạt 10.488 nghìn đôi, xi măng 876,4 nghìn tấn, dứa + dưa chuột 2.344,3 tấn, lá bương 140,6 tấn, sản phẩm cói, mây tre 253,4 nghìn sản phẩm (Đây là những sản phẩm năm 1991, 1992 chưa có để xuất khẩu).
6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất lương thực cũng đạt được những thành tựu đáng kể.
Sau nhiều năm phấn đấu thực hiện giải quyết vấn đề lương thực, đến nay an toàn lương thực của tỉnh đã được khẳng định, đồng thời phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá: nhất là những năm gần đây nhiều loại giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao đã được đưa vào sản xuất, bên cạnh đó tỉnh cũng đã quan tâm đầu tư dự án sản xuất giống lúa thuần chất lượng cao với ưu điểm: ngắn ngày, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt, ít sâu bệnh, chất lượng gạo ngon. Dự án thành công đã cung cấp giống lúa thuần chất lượng cao, ổn định với giá thành phù hợp từ đó chuyển dịch cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ, xây dựng vùng nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Năm 2010 mới có 17/36 HTX nông nghiệp trong huyện Yên Khánh đưa giống QR1 vào sản xuất với diện tích 207,1 ha thì đến năm 2011 đã có 36/36 HTX nông nghiệp đưa vào sản xuất với diện tích 1.617,9 ha.
Sản lượng lương thực có hạt toàn tỉnh năm 2011 đạt gần 514,2 ngàn tấn gấp hơn 2,6 lần năm 1991 (tăng hơn 320 ngàn tấn so với năm 1991 là năm trước khi tỉnh Ninh Bình được tái lập), bình quân mỗi năm trong 20 năm qua (1992-2011) tăng hơn 16 ngàn tấn. Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người tăng mạnh từ 241,9 kg năm 1991 lên 566,4 kg năm 2011.
Thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX về đẩy mạnh phát triển sản xuất vụ đông đến năm 2010. Sau 05 năm triển khai thực hiện, sản xuất vụ đông của tỉnh đang dần trở thành vụ sản xuất chính, cùng với cây lúa, cây trồng vụ đông đã góp phần tạo ra cánh đồng đạt giá trị thu hoạch trên 75 triệu đồng/ha/năm vào năm 2010 (mục tiêu là 50 triệu đồng/ha/năm) và có vai trò tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo định hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao giá trị sản phẩm và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích. Nghị quyết 03 thực sự là nguồn lực, là động lực to lớn, đã làm thay đổi cơ bản từ nhận thức đến hành động của các cấp uỷ đảng, chính quyền trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, bền vững; tạo việc làm trong nông thôn, tăng thu nhập cho người sản xuất, góp phần xoá đói, giảm nghèo, thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển và từng bước thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng phát triển với tốc độ nhanh, theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo nhu cầu thực phẩm tiêu dùng cho nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh và cung cấp cho các địa bàn lân cận. Hiện nay ở Ninh Bình đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi tập trung (trang trại, gia trại) với số lượng lớn theo qui mô nuôi công nghiệp, bên cạnh đó sản phẩm chăn nuôi cũng được đa dạng hoá nhiều con vật nuôi có giá trị kinh tế cao như: nhím, dê, hươu, thỏ, rắn, ong…
Sản xuất nuôi trồng thuỷ sản cũng có nhiều khởi sắc, việc đưa vào nuôi trồng nhiều loại thuỷ sản có giá trị và hiệu quả kinh tế cao, nhất là ở vùng ven biển Kim Sơn như: tôm sú, cua, ngao… Các hộ nuôi trồng và khai thác thuỷ sản đã tập trung vào cải tạo ao, đầm và mua sắm trang thiết bị, phương tiện đánh bắt thuỷ sản. Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản năm 2011 toàn tỉnh đạt hơn 9.564 ha, tăng 6.314 ha so với năm 1991, bình quân hàng năm thời kì 1992-2011 tăng 5,5%. Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2011 đạt 32,2 nghìn tấn, gấp gần 19,6 lần năm 1991 (tăng gần 30,6 nghìn tấn), bình quân hàng năm tăng 16%. Trong đó sản lượng nuôi trồng nước mặn, lợ đạt gần 10,1 nghìn tấn (chủ yếu ngao đạt gần 7,7 nghìn tấn - năm 1991 chưa có sản phẩm này). Sản lượng thuỷ sản khai thác toàn tỉnh đạt 5.259 tấn, gấp 6,2 lần năm 1991, bình quân hàng năm tăng 9,6%/ năm.
7. Cơ sở hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, điện năng
Cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, điện năng là điều kiện tiền đề rất quan trọng phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân. Chính vì vậy ngay từ khi tái lập tỉnh công tác này đã được chú trọng tập trung đầu tư.
Về giao thông: Trong những năm vừa qua các tuyến Quốc lộ đã được Nhà nước tập trung đầu tư cải tạo nâng cấp các tuyến 1A, 477, Quốc lộ số 10 (đoạn từ Ninh Bình đi Kim Sơn) và các cầu cống trên các tuyến đường đó. Đến nay cơ bản các tuyến đường Quốc lộ được nâng cấp với chất lượng tốt đáp ứng tốt cho hoạt động giao thông vận tải thông thương giữa Ninh Bình với các tỉnh trong các vùng lân cận cũng như cả nước.
Các tuyến tỉnh lộ, huyện lộ và hệ thống đường giao thông nông thôn với tổng chiều dài hàng ngàn km, đóng vị trí khá quan trọng trong toàn bộ hệ thống giao thông đường bộ của tỉnh. Toàn tỉnh đã đầu tư cải tạo kiên cố hoá (cứng hoá) đường giao thông nông thôn với tổng chiều dài gần 1.700 km và hệ thống cầu cống với tổng vốn đầu tư hàng nghìn tỉ đồng.
Hệ thống thuỷ lợi: Hệ thống trạm bơm điện phục vụ tưới, tiêu trên địa bàn toàn tỉnh trong thời gian qua được đặc biệt quan tâm đầu tư, nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đảm bảo an toàn cho dân cư trong mùa mưa lũ. Toàn tỉnh hiện có hơn 416 trạm bơm điện với tổng công suất là hơn 1,9 triệu m3/h; trong đó 130 trạm công suất gần 1,4 triệu m3/h do tỉnh quản lý, 286 trạm tổng công suất 545,9 m3/h do huyện quản lý. Nhiều hồ chứa nước với trữ lượng hàng triệu m3 rất thuận lợi cho việc tưới cho cây trồng hàng năm, đồng thời góp phần hạn chế lũ đổ về các vùng chiêm trũng và điều hoà khí hậu môi trường thiên nhiên. Đó là các hồ Đá Lải trữ lượng 2,5 triệu m3, hồ Thường Sung 1,5 triệu m3, hồ Yên Quang 5,6 triệu m3, hồ Đập Trời 1,5 triệu m3, hồ Đồng Chương 3,5 triệu m3 (ở huyện Nho Quan), hồ Yên Thắng 6,4 triệu m3 (Yên Mô)… với tổng trữ lượng thiết kế là hơn 21 triệu m3, tưới cho hơn 41,2 nghìn ha. Cùng với hệ thống các trạm bơm, hồ đập còn có hệ thống kênh mương tác dụng dẫn nước tưới, tiêu hoặc tới hoặc từ các trạm bơm, các hồ tới đồng ruộng. Đến 31/12/2011 toàn tỉnh đã thực hiện kiên cố được 925,5 km kênh mương, Trong thời kỳ này hệ thống đê điều được quan tâm đầu tư, xây dựng mới và nâng cấp cải tạo như: Hệ thống đê biển Bình Minh II, đê biển Bình Minh III; đê tả và hữu sông Hoàng Long, đê sông Đáy…
Điện lực: Trong những năm vừa qua, do được quan tâm đúng mức và đầu tư kịp thời nên cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành điện đã được cải thiện đáng kể, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân và đặc biệt là phục vụ cho sản xuất ở thời kì công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Cơ sở hạ tầng bưu chính viễn thông được tăng cường đáng kể: Cùng với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước, ngành bưu chính viễn thông nước ta đã nhanh chóng phát triển, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Cơ sở hạ tầng, mạng lưới bưu chính, viễn thông không ngừng phát triển mở rộng đến vùng sâu, vùng xa và liên tục được bổ sung công nghệ mới; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân. Hiện nay có 3 mạng viễn thông lớn phục vụ trên địa bàn toàn tỉnh đó là: Viễn thông (VNPT), viễn thông quân đội Viettel, viễn thông điện lực. Hệ thống phát thanh truyền hình ngày càng được hiện đại hoá với nhiều phương thức truyền thông, dễ dàng tiếp cận đã góp phần nâng cao dân trí, đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh hiện thực, thông tin, tuyên truyền đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhiều cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, các trường học và các hộ dân được sử dụng máy vi tính kết nối Internet. Đến năm 2011 toàn tỉnh đã có 91% số hộ dân có máy thu hình; 218.675 máy thuê bao điện thoại cố định (hữu tuyến và vô tuyến) và máy thuê bao di động trả sau; Số thuê bao Internet được kết nối ADSL là 21.908, trong đó có 19.685 thuê bao của hộ dân.