Hôm nay, thứ 6 23/06/2017
Tìm kiếm:  

THÔNG TIN THỐNG KÊ THÁNG


1. Sản xuất nông nghiệp
 Trồng trọt:
 Thu hoạch vụ chiêm xuân: Đến nay, toàn tỉnh đã hoàn thành việc thu hoạch các loại cây trồng vụ chiêm xuân. Theo kết quả điều tra năng suất - sản lượng lúa và một số cây hàng năm khác thì vụ chiêm xuân năm 2014, năng suất lúa bình quân toàn tỉnh đạt 65,82 tạ/ha, tăng 0,8% (+0,55 tạ/ha) so với cùng vụ năm trước, sản lượng lúa đạt gần 275 nghìn tấn, tăng 0,4% (+1,2 nghìn tấn);
Cây ngô: Năng suất đạt 31,8 tạ/ha, giảm 7,5%(-2,6 tạ/ha), sản lượng đạt 7,1 nghìn tấn, giảm 1% (73,8 tấn); Cây lạc: Năng suất đạt 22,3 tạ/ha, giảm 14,8% (-3,9 tạ/ha), sản lượng đạt 8,4 nghìn tấn, giảm 20,9% (-2,2 nghìn tấn); Rau các loại: Năng suất đạt 155,3 tạ/ha, tăng 4,8% (+7,1 tạ/ha), sản lượng rau đạt 31,1 nghìn tấn, tăng 12,1% (+3,3 nghìn tấn) so với cùng vụ năm trước.
Sản xuất vụ mùa: Sản xuất vụ mùa năm nay thời tiết tương đối thuận lợi, các ngành dịch vụ đảm bảo đủ nước, cung ứng giống, phân bón đảm bảo phục vụ cho nhu cầu của bà con; Các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo khẩn trương gieo cấy lúa vụ mùa theo đúng kế hoạch và trong khung thời vụ tốt nhất.
 Đến nay toàn tỉnh đã gieo cấy được gần 37,2 nghìn ha, bằng 96,2% kế hoạch gieo cấy lúa vụ mùa năm 2014. Diện tích màu đã trồng được là 2,4 nghìn ha, trong đó có 435 ha đỗ tương, 746 ha ngô, 211 ha lạc, 161 ha khoai lang và 821 ha rau, đậu các loại.
 Chăn nuôi: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy dịch bệnh, đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định. Các địa phương tiếp tục tiêm phòng bổ sung được 314 liều văcxin lở mồm long móng cho đàn trâu, bò; 600 liều văcxin phó thương hàn, tụ dấu lợn và 191,6 nghìn liều văcxin cúm gia cầm cho đàn gia cầm.
            Lâm nghiệp: Sản xuất lâm nghiệp trong tháng vẫn phát triển bình thường. Công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng tiếp tục được kiểm soát và chỉ đạo chặt chẽ. Tuy thời tiết nắng nóng kéo dài trên diện rộng nhưng trong tháng trên địa bàn tỉnh không có vụ cháy rừng cũng như chặt phá rừng và buôn bán động vật trái phép nào xảy ra.
Thủy sản: Hiện nay đang bước vào mùa mưa lũ, các hộ nuôi trồng tiếp tục đầu tư chăm sóc các diện tích đã nuôi thả, đồng thời chủ động tiến hành các biện pháp phòng chống lụt bão để bảo vệ ao đầm. Trong tháng, các hộ nuôi thủy sản nước lợ đang bước vào vụ thu hoạch tôm vụ 1. Ước tính sản lượng tôm thu hoạch đến thời điểm này đạt 95,5 tấn.
          2. Sản xuất công nghiệp
Trong tháng sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh duy trì ở mức tương đối ổn định, Tuy nhiên có một số nhà máy tạm dừng sản xuất để đại tu, sửa chữa lớn như: Nhà máy đạm Ninh Bình dừng sản xuất từ ngày 25/6/2014, dự kiến đến cuối tháng 7 mới hoạt động trở lại; Nhà máy xi măng Vinakansai dừng trong 7 ngày 1 dây truyền; nhà máy gạch Đại Sơn dừng sản xuất do lượng sản phẩm tồn kho chưa tiêu thụ còn nhiều; nhà máy nhiệt điện Ninh Bình cắt giảm sản lượng điện phát lên lưới do đã đến mùa nước nguồn cung từ thủy điện đã ổn định...
Chỉ số phát triển công nghiệp (IIP) toàn tỉnh tháng này ước tính tăng 2,73% so với cùng tháng năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 32,49%; công nghiệp chế biến tăng 3,39%; công nghiệp sản xuất, PP điện giảm 12,99%; sản xuất cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 20,57%.
Tính chung lại IIP 7 tháng đầu năm tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai thác mỏ giảm 13,18%; công nghiệp chế biến tăng 14,68%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện giảm 2,03%; công nghiệp cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 19,55%.
Tính theo giá so sánh 2010: Giá trị sản xuất công nghiệp tháng này toàn tỉnh ước đạt 2.184,5 tỷ đồng, tăng 23% so với cùng tháng năm trước. Trong đó: Công nghiệp khai thác mỏ đạt 16,8 tỷ đồng, tăng 32,4%; Công nghiệp chế biến đạt 2.119,2 tỷ đồng, tăng 24,5%; Công nghiệp sản xuất, phân phối điện đạt 36,2 tỷ đồng, giảm 30,6%; Công nghiệp sản xuất nước và hoạt động quản lý, xử lý rác thải đạt 12,2 tỷ đồng, tăng 42,1%.
Tính chung lại, tổng giá trị sản xuất 7 tháng đầu năm 2014 toàn tỉnh đạt 15.015,0 tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Công nghiệp khai thác mỏ đạt 100,7 tỷ đồng, giảm 15,6%; công nghiệp chế biến đạt 14.235,1 tỷ đồng, tăng 19,7%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện đạt 594,6 tỷ đồng, giảm 2,7%; công nghiệp cung cấp nước và xử lý rác thải đạt 84,6 tỷ đồng, tăng 47,1%.
Trong 7 tháng đầu năm các sản phẩm công nghiệp có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước là: xi măng và clanhke đạt 6.308,7 nghìn tấn, tăng 15,4%; phân đạm đạt 190 nghìn tấn, tăng 23,7%; xe ô tô 4 chỗ đạt 1.318 chiếc, tăng 63,1%; giày, dép vải đạt 11.187 nghìn đôi, tăng 26,9%; găng tay đạt 10,2 triệu đôi, gấp gần 2,1 lần; bộ phận của cẩu trục đạt 39,7 nghìn tấn, gấp 2,8 lần; nước máy đạt 5.417,9 nghìn m3, tăng 12,8%.... Bên cạnh đó một số sản phẩm có mức sản xuất giảm sút là: đá khai thác đạt 1.519 nghìn m3, giảm 11,4%; quần áo các loại đạt 22,5 triệu cái, giảm 12,9%; mì ăn liền đạt 1.480 tấn, giảm 10,5%; thức ăn gia súc đạt gần 9,6 nghìn tấn, giảm 39,5%; kính nổi đạt 42 nghìn tấn, giảm 8,1%; gạch xây bằng đất nung đạt 228,2 triệu viên, giảm 8,7%; kính máy ảnh đạt 2,4 triệu cái, giảm 11,9%; cần gạt nước ô tô đạt 8,8 triệu cái, giảm 13,7%; điện sản xuất đạt 492,3 triệu kwh, giảm 7,8%...
Một số ngành có chỉ số tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất phân bón chỉ số là 136,9%; sản xuất gạch là 116,4%; sản xuất thép là 209,4%; sản xuất trang phục là 114,7%... Một số sản phẩm tồn kho chủ yếu trong tháng là: Giầy dép 551 nghìn đôi; phân đạm 70,2 nghìn tấn; phân lân nung chảy 3,4 nghìn tấn; kính nổi 63,3 nghìn tấn; xi măng 74 nghìn tấn; sắt xây dựng gần 30,2 nghìn tấn; xe ô tô lắp ráp 609 chiếc...
3. Vốn đầu tư phát triển
 Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn toàn tỉnh tháng này ước đạt 1.676,2 tỷ đồng. Chia ra: Vốn Nhà nước đạt 284,8 tỷ đồng; Vốn ngoài Nhà nước đạt 1.201,8 tỷ đồng; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 189,6 tỷ đồng. So với cùng tháng năm trước tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn giảm 23,6%: Trong đó: vốn nhà nước giảm 72%; vốn ngoài Nhà nước tăng 23,4%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 7,4%.
Tính chung lại 7 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh đạt 10.886,9 tỷ đồng, tăng 9,9%. Chia ra: Vốn đầu tư khu vực nhà nước đạt 3.203,1 tỷ đồng, giảm 1,6% (trong đó: vốn ngân sách nhà nước đạt 1.568,7 tỷ đồng, tăng 32,3%; vốn tín dụng đạt 92,0 tỷ đồng, giảm 63,7%; vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước đạt 152 tỷ đồng, giảm 69,3%...); Vốn ngoài nhà nước đạt 6.961,8 tỷ đồng, tăng 17,6% (trong đó vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 4.651,0 tỷ đồng, tăng 57,6%;vốn trong dân cư đạt 2.310,7 tỷ đồng, giảm 22,2%); Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 722,1 tỷ đồng, giảm 1,6%.
Các dự án, công trình trọng điểm có tổng mức đầu tư vốn lớn trong 7 tháng như: Dự án bệnh viện sản nhi ước đạt 651 tỷ đồng; Dự án quản lý và xử lý chất thải rắn Ninh Bình ước đạt 253 tỷ đồng; Dự án đường cao tốc cầu Giẽ - Ninh Bình ước đạt 235 tỷ đồng; Dự án nhà máy xi măng Hệ Dưỡng ước đạt 223 tỷ đồng; Dự án nâng cấp đê hữu Hoàng Long, sông Đáy kết hợp giao thông đoạn Bái Đính đi Kim Sơn ước đạt 200 tỷ đồng; Dự án mua sắm máy móc, thiết bị bổ sung của công ty TNHH McNex Vina ước đạt 134 tỷ đồng; Dự án mua sắm máy móc, thiết bị của công ty TNHH ADM 21 ước đạt 123 tỷ đồng; Dự án nạo vét lòng dẫn lũ sông Hoàng Long ước đạt 90 tỷ đồng; Dự án đường hầm khu quảng trường TP Ninh Bình ước đạt 74 tỷ đồng; dự án quốc lộ 1A ước đạt 63 tỷ đồng...
4. Thương mại, giá cả, dịch vụ
4.1. Bán lẻ hàng hóa: Tổng mức bán lẻ hàng hoá trên thị trường toàn tỉnh 7 tháng  năm 2014 ước đạt 9.485,5 tỷ đồng, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo thành phần: Kinh tế cá thể đạt 6.140,4 tỷ đồng tăng 8,5% (chiếm 64,7% tổng mức bán lẻ); Kinh tế tư nhân đạt 2.955,2 tỷ đồng, tăng 11%; Kinh tế Nhà nước đạt 389,6 tỷ đồng, tăng 1%. Trong đó: Nhóm hàng lương thực thực phẩm 2.813,2 tỷ đồng, tăng 8,4%; nhóm hàng may mặc 933,8 tỷ đồng, tăng 7,5%; nhóm gỗ và VLXD 1.387,5 tỷ đồng, tăng 13,6%; Nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình 857,8 tỷ đồng, tăng 14,3%; hàng hóa khác 1.135 tỷ đồng, tăng 8,3%.... Riêng hai nhóm có tổng mức bán lẻ giảm so với cùng kỳ là nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) giảm 7,4% và nhóm vật phẩm, văn hoá giáo dục giảm 8,6%.
4.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Xuất khẩu: Tổng giá trị xuất khẩu 7 tháng năm nay ước đạt gần 411,9 triệu USD, tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn là: Quần áo các loại đạt gần 120,8 triệu USD; xi măng, clanke đạt 151,2 triệu USD; giầy dép khác đạt 82,3 triệu USD; túi nhựa đạt 2,3 triệu USD; linh kiện điện tử đạt 36,5 triệu USD.
 Một số mặt hàng xuất khẩu 7 tháng đạt khá như: Quần áo các loại gần 21,2 triệu chiếc, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước; dứa, dưa chuột đóng hộp 1,9 nghìn tấn, gấp hơn 4,8 lần; xi măng, clanke gần 3,7 triệu tấn, tăng 17%; giầy dép khác 10,9 triệu đôi, tăng 16,3%. Tuy nhiên một số mặt hàng xuất khẩu lại giảm sút như: Nước dứa cô đặc giảm 71,9%; túi nhựa giảm 34,4%; hàng thêu ren giảm 72,8%....
   Nhập khẩu: Tổng giá trị nhập khẩu 7 tháng ước đạt trên 234,2 triệu USD, tăng 51,2% so với cùng kỳ năm trước. Trị giá các nhóm mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn là: Vải và phụ liệu may mặc 110,9 triệu USD; máy móc thiết bị phụ tùng 14,3 triệu USD; gỗ 15,8 triệu USD; các bộ phận để sản xuất giầy dép 19,4 triệu USD.
4.3. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng này tương đối ổn định, chỉ tăng 0,05% so với tháng trước, trong đó 6 nhóm có chỉ số giá tăng là: Nhóm đồ uống thuốc lá tăng 0,53%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,42%; nhóm giao thông tăng 0,3%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; nhóm giáo dục tăng 0,04% và nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,03%. Các nhóm giảm là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,07% (trong đó lương thực giảm 2,43%; thực phẩm tăng 0,44%); nhóm viễn thông giảm 0,01%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,11%; nhóm hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,72%. Riêng nhóm thuốc và dịch vụ y tế vẫn giữ ổn định.
 Tính chung lại, chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh 7 tháng năm nay tăng 0,78% so với tháng 12 năm trước. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,24% (lương thực tăng 1,59; thực phẩm tăng 0,16; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,25%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,34%; nhóm giao thông tăng 1,9%; nhóm văn hoá giải trí và du lịch tăng 0,74%; nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 2,26%... Riêng 3 nhóm có chỉ số giảm là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 1,25%; nhóm viễn thông giảm 0,01%; nhóm giáo dục giảm 0,08%.
Chỉ số giá vàng tháng 7/2014 giảm 0,63% so với tháng trước và giảm 0,28% so với tháng 12 năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tháng này tăng 0,72% so với tháng trước và tăng 1,27% so với tháng 12/2013.
4.4. Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hàng hóa 7 tháng đầu năm 2014 ước đạt 18,6 triệu tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vận tải đường bộ đạt 9,8 triệu tấn, tăng 5,2%; vận tải đường sông đạt gần 8,3 triệu tấn, tăng 3,6%; vận tải đường biển 0,4 triệu tấn, giảm 14,9%. Khối lượng luân chuyển hàng hóa 7 tháng ước đạt 2.399,3 triệu tấn.km, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải đường bộ đạt 569 triệu tấn.km, tăng 10,3%; vận tải đường sông đạt 1.540,3 triệu tấn.km, giảm 0,2%; vận tải đường biển đạt 290,1 triệu tấn.km, giảm 15,1%. Doanh thu vận tải hàng hóa 7 tháng đầu năm ước đạt 1.642 tỷ đồng, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hành khách 7 tháng đầu năm nay ước đạt trên 9,6 triệu lượt khách, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng luân chuyển hành khách ước đạt 618,4 triệu lượt khách.km, tăng 14,5%. Doanh thu vận tải hành khách 7 tháng ước đạt 367,7 tỷ đồng, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước.
4.5. Du lịch
Khu quần thể danh thắng Tràng An đã được Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO chính thức công nhận là Di sản thiên nhiên Thế giới tại kỳ họp lần thứ 38 diễn ra tại Doha (Qatar). Đặc biệt Tràng An trở thành Di sản Thế giới hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam được công nhận cả tiêu chí văn hóa và thiên nhiên. Đây là vinh dự không chỉ của tỉnh Ninh Bình mà của cả Việt Nam, đồng thời khẳng định những nỗ lực to lớn của Ninh Bình trong việc bảo vệ, gìn giữ các di sản văn hóa và thiên nhiên của đất nước cũng như của toàn nhân loại.
Ước tính lượng khách đến các điểm thăm qua du lịch trong tỉnh tháng này đạt gần 158,2 nghìn lượt khách, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khách trong nước trên 128 nghìn lượt, giảm 0,5%; khách quốc tế đạt 30,1 nghìn lượt, giảm 15,5%); Số ngày khách lưu trú đạt 30,8 nghìn ngày khách, tăng 1%; Doanh thu du lịch đạt trên 41,9 tỷ đồng, giảm 0,2%.
Tính chung lại, 7 tháng năm nay lượng khách đến thăm quan tại các điểm du lịch trong tỉnh ước đạt 3.467,1 nghìn lượt khách, giảm 5,7%; số ngày khách lưu trú ước đạt 276,7 nghìn ngày khách, tăng 10,5%; Doanh thu du lịch 7 tháng đạt gần 701,6 tỷ đồng giảm 1%, trong đó doanh thu khách sạn 100,8 tỷ tăng 11,9%; doanh thu nhà hàng 265,7 tỷ, giảm 1,4%.
5. Một số vấn đề xã hội
5.1. Văn hóa thông tin
Hoạt động VHTT trong tháng diễn ra phong phú và thiết thực chào mừng những ngày lễ trọng đại của dân tộc và những sự kiện lớn của Tỉnh như: Kỷ niệm ngày truyền thống lực lượng thanh niên xung phong 12/7, ngày thương binh liệt sỹ 27/7, kỷ niệm 60 năm ngày giải phóng Thành phố; Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận đô thị loại II diễn ra trang trọng.
Trung tâm phát hành phim và chiếu bóng đã thực hiện 86 buổi chiếu, phục vụ gần 8,4 nghìn lượt người xem; trong đó có 55 buổi chiếu phim lưu động phục vụ nhân dân các xã vùng sâu, vùng xa trong tỉnh. Thư viện tỉnh đã luân chuyển 5,6 nghìn lượt sách báo, phục vụ trên 5,2 nghìn lượt bạn đọc, cấp và đổi mới 77 thẻ bạn đọc.
5.2. Thể dục thể thao
Phong trào TDTT tỉnh thường xuyên duy trì và nâng cao nhằm tìm kiếm các VĐV có năng khiếu và thể lực để tham gia các giải thi đấu, trước mắt là kỳ Đại hội TDTT toàn quốc vào cuối năm 2014. Trung tâm TDTT tỉnh cũng tạo điều kiện cho các đơn vị tổ chức giải bóng đá nhi đồng hè và chạy Việt dã.
Tham gia và thi đấu các giải đạt thành tích cao với 1HCB, 1HCĐ giải Quần vợt năng khiếu tại Sóc Trăng; 1HCB, 2HCĐ giải Quần vợt thanh niên tại TP Hồ Chí Minh; Đội Bóng chuyền trẻ Tràng An đạt HCĐ tại giải vô địch bóng chuyền trẻ toàn quốc năm 2014 tại TP Buôn Ma Thuột.
5.3. Y tế
Trong tháng 6, toàn tỉnh đã phát hiện 65 ca mắc bệnh chân tay miệng; 1 trường hợp tử vong do mắc liên cầu lợn; 61 bệnh nhân sốt rét lâm sàng; xảy ra 1 ca ngộ độc thực phẩm lẻ tẻ, không có tử vong.
Công tác khám chữa bệnh luôn được quan tâm thực hiện: Tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh đã khám bệnh cho trên 73,1 nghìn lượt bệnh nhân; điều trị nội trú cho 7 nghìn lượt; khám phụ khoa 15,8 nghìn lượt; khám thai 8,2 nghìn lượt; đặt vòng 1163 ca; triệt sản nữ 6 ca. Công tác phòng chống HIV/AIDS: phát hiện mới 25 người nhiễm HIV, có 2 trường hợp tử vong.
5.4. Giáo dục
Trong tháng ngành giáo dục đã tổ chức thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2014-2015 đảm bảo nghiêm túc, đúng quy chế. Hiện đã hoàn thành việc chấm điểm và công bố kết quả.
Tham gia cuộc thi vận dụng kiến thức chuyên môn để giải quyết một số tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học năm học 2013-2014 cấp toàn quốc với 25/50 dự án đạt giải trong đó có 2 giải nhất, 3 giải nhì, 5 giải ba, 15 giải khuyến khích.
5.5. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Trong tháng 6, toàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông (trong đó có 1 vụ giao thông đường sắt), làm chết 5 người xảy ra 11 vụ phạm pháp hình sự với 35 đối tượng, phát hiện và xử lý 123 vụ buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma túy với 133 đối tượng. Đầu tháng 7 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 1 vụ cháy với trị giá thiệt hại 40 triệu đồng.
Tính chung lại, trong 6 tháng đầu năm 2014, toàn tỉnh xảy ra 93 vụ tai nạn giao thông (trong đó có 3 vụ đường sắt), làm chết 26 người (tăng 51 vụ, giảm 3 người chết so với cùng kỳ năm trước), xảy ra 121 vụ phạm pháp hình sự với 568 đối tượng (giảm 17 vụ, tăng 277 đối tượng), phát hiện 415 vụ phạm pháp hình sự với 462 đối tượng (tăng 160 vụ, tăng 192 đối tượng)./.




CÁC BÀI KHÁC