Hôm nay, thứ 5 20/07/2017
Tìm kiếm:  

THÔNG TIN THỐNG KÊ THÁNG


BÁO CÁO KINH TẾ-XÃ HỘI THÁNG 10 VÀ 10 THÁNG NĂM 2014
 
1.     Sản xuất nông nghiệp
Trồng trọt:Trong tháng, các địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ thu hoạch lúa và các loại cây trồng vụ mùa, gieo trồng các loại cây vụ đông đảm bảo khung thời vụ tốt nhất và hoàn thành kế hoạch về diện tích gieo trồng.
Thu hoạch cây trồng vụ mùa: Tính đến nay, toàn tỉnh đã thu hoạch được 36,7 nghìn ha lúa bằng 95,1% diện tích lúa đã cấy. Diện tích lúa thu hoạch chủ yếu ở huyện Nho Quan gần 5,3 nghìn ha; Gia Viễn gần 5,8 nghìn ha; Yên Mô hơn 6,8 nghìn ha; Yên Khánh gần 7,8 nghìn ha; Kim Sơn gần 7,5 nghìn ha… Dự ước năng suất lúa bình quân chung toàn tỉnh vụ mùa năm 2014 đạt 54,3 tạ/ha, tăng 6,3 tạ/ha so với cùng vụ năm trước. Nhìn chung, sản xuất vụ mùa năm nay thời tiết cơ bản thuận lợi, sâu bệnh có phát sinh nhưng mức độ gây hại giảm so với vụ mùa năm trước nên năng suất các loại cây trồng đạt khá.
Sản xuất cây vụ đông:Đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 4,3 nghìn ha cây vụ đông, đạt 38,6% kế hoạch gieo trồng cây vụ đông toàn tỉnh, giảm 43,6% (-3,3 nghìn ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích ngô trồng được đạt 1.479 ha, giảm 28,2% (-582 ha); đỗ tương đạt 373ha, giảm 82,2% (-1,7 nghìn ha); khoai lang đạt 613 ha, giảm 42,6% (-455 ha); lạc đạt 160 ha, giảm 17,1% (-33 ha); rau đậu các loại đạt 1.584 ha, giảm 1,9% (-30 ha). Tiến độ gieo trồng vụ đông đạt thấp hơn so với cùng thời điểm năm trước là do diện tích đỗ tương năm nay giảm nhiều. Nguyên nhân do giá trị kinh tế của đỗ tương không cao, thêm vào đó cây đỗ tương không được hỗ trợ về giống như trước đây nên người dân không mặn mà với việc gieo trồng, hiện chỉ còn gieo trồng chủ yếu ở 02 huyện Yên Khánh và Yên Mô. Công tác thủy lợi nội đồng được tiếp tục quan tâm nhất là đảm bảo việc tiêu nước tốt, nhằm khắc phục tình trạng cây vụ đông bị ngập úng khi gặp mưa lớn.
 Chăn nuôi: Trong tháng, đàn gia súc, gia cầm phát triển tương đối ổn định, không có dịch bệnh xảy ra. Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh đã tổ chức tiêm phòng vụ thu đông cho đàn gia súc, gia cầm. Toàn tỉnh đã tiêm phòng 10,3 nghìn liều vắc xin lở mồm long móng và 3,9 nghìn liều vắc xin tụ huyết trùng cho trâu bò; 1.698,8 nghìn liều vắc xin cúm gia cầm; 128,3 nghìn liều vắc xin dịch tả lợn và 12 nghìn liều vắc xin phó thương hàn, tụ dấu lợn…
Lâm nghiệp: Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành chức năng coi trọng; công tác tuyên truyền bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, chặt phá rừng cũng được đẩy mạnh, nên ý thức của người dân được nâng lên rõ rệt. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra các vụ cháy, chặt phá rừng.
 Thuỷ sản: Thời tiết thuận lợi nên các con nuôi sinh trưởng và phát triển ổn định. Một số diện tích nuôi cá nước ngọt đã bước vào chu kỳ thu hoạch. Tính đến nay, người dân đã hoàn thành công tác thả giống vụ 2, lượng cua giống ước tính đã thả được là 4,8 triệu con. Các hộ nuôi trồng tiếp tục đầu tư chăm sóc các diện tích đã nuôi thả để chuẩn bị cho thu hoạch đạt năng suất cao; đồng thời chủ động tiến hành các biện pháp phòng dịch bệnh xảy ra trong thời điểm giao mùa.
2. Sản xuất công nghiệp
 Chỉ số phát triển công nghiệp (IIP) toàn tỉnh tháng này ước tính tăng 31,73% so với cùng tháng năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 10,4%; công nghiệp chế biến tăng 35,18%; công nghiệp sản xuất, PP điện tăng 16,78%; sản xuất cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 19,98%. Tính chung lại IIP 10 tháng đầu năm tăng 19,32% so với cùng kì năm trước, trong đó công nghiệp khai thác mỏ giảm 11,47%; công nghiệp chế biến tăng 22,54%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện tăng 2,33%; công nghiệp cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,6%.
Ước tính tháng 10, giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh (giá so sánh 2010) ước đạt gần 2.377,5 tỷ đồng, tăng 37,3% so với cùng tháng năm trước. Trong đó: công nghiệp khai thác mỏ đạt 26,6 tỷ đồng, giảm 13,4%; công nghiệp chế biến đạt 2.269,2 tỷ đồng, tăng 40,4%; Sản xuất phân phối điện, khí đốt đạt 69,6 tỷ đồng, giảm 5,8%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải đạt 12,1 tỷ đồng, tăng 15,5%.
Tính chung lại, giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 10 tháng đầu năm (giá so sánh 2010) ước đạt 21.707,7 tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng tháng năm trước. Trong đó: công nghiệp khai thác mỏ đạt 222,4 tỷ đồng, giảm 6,7%; công nghiệp chế biến đạt 20.585,0 tỷ đồng, tăng 28,4%; Sản xuất phân phối điện, khí đốt đạt 769,2 tỷ đồng, tăng 0,6%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải đạt 131,0 tỷ đồng, tăng 27,1%.
Trong tháng 10, một số dự án sản xuất và lắp ráp linh kiện điện tử cho tập đoàn Sam Sung của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới đầu tư vào khu công nghiệp Gián Khẩu đã bắt đầu đi vào sản xuất như: công ty TNHH YGVINA; công ty TNHH SANICO ELECTRONIC; Công ty TNHH SIL RANG ELECTRONIC...
Các sản phẩm đạt mức tăng khá trong 10 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước là: Giày, dép vải đạt hơn 16,8 triệu đôi, tăng 28,3%; phân u rê đạt 293,1 nghìn tấn, tăng 41,0%; phân NPK đạt 55,4 nghìn tấn, tăng 16,9%; xi măng và clanhke đạt 9.132 nghìn tấn, tăng 17,6%; cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại đạt hơn 3,3 nghìn tấn, tăng 33,5%; cấu kiện tháp, cột bằng sắt thép đạt 67,5 nghìn tấn, gấp gần 9 lần; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt thép đạt 537,3 nghìn m2, tăng 63,6%; thép cán đạt 183,2 nghìn tấn, tăng 4,9%; xe ô tô 4 chỗ đạt 1.428 chiếc, tăng 17,2%; nước máy đạt 9.351,3 tr.kwh, tăng 10,3%....
Bên cạnh đó một số sản phẩm lại có mức giảm sút như: Đá các loại đạt 1.950,6 nghìn m3, giảm 13,3%; quần, áo các loại đạt 37,4 nghìn cái, giảm 2%; phân lân nung chảy đạt 141,4 nghìn tấn, giảm 11,3%; gạch xây bằng đất nung đạt 264,1 triệu viên, giảm 9,7%; kính máy ảnh đạt 2.751,8 nghìn cái, giảm 25,3%...
   Một số ngành có chỉ số tồn kho tháng này tăng cao so với cùng tháng năm trước là: Sản xuất trang phục là 110,39%; sản xuất giày dép 229,84%; sản xuất phân bón là 191,94%; sản xuất thép là 139,08% ... Một số sản phẩm tồn kho chủ yếu là: Giầy dép 2.804 nghìn đôi, phân đạm 25,8 nghìn tấn, phân lân nung chảy 23,2 nghìn tấn, kinh nổi 28,9 nghìn tấn, xi măng 61,7 nghìn tấn, camera và linh kiện điện tử 2.828,1 nghìn cái.
3. Vốn đầu tư phát triển
Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn toàn tỉnh tháng này ước đạt gần 1.824,4 tỷ đồng. Chia ra: Vốn Nhà nước đạt 253,1 tỷ đồng; Vốn ngoài Nhà nước đạt 1.438,7 tỷ đồng; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt gần 132,6 tỷ đồng. So với cùng tháng năm trước tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn giảm 13,3%: Trong đó: vốn nhà nước giảm 58,9%; vốn ngoài Nhà nước tăng 10,6%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 29,3%.
Tính chung lại 10 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh đạt 17.324,9 tỷ đồng, tăng 12,7% so với thực hiện 10 tháng năm 2013. Chia ra: Vốn đầu tư khu vực nhà nước đạt 4.335,6 tỷ đồng, giảm 10,4% (trong đó: vốn ngân sách nhà nước đạt 2.076,8 tỷ đồng, tăng 10,1%; vốn tín dụng đạt 94,9 tỷ đồng, giảm 64,4%; vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước đạt 477,3 tỷ đồng, giảm 12,6%...); Vốn ngoài nhà nước đạt 11.242,7 tỷ đồng, tăng 21,4% (trong đó vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 7.151,2 tỷ đồng, tăng 38,9%; vốn trong dân cư đạt 4.091,5 tỷ đồng, giảm 0,5%); Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 1.746,6 tỷ đồng, tăng 37,1%.
Các dự án, công trình trọng điểm có mức vốn đầu tư lớn được thực hiện trong 10 tháng đầu năm như: Dự án mua sắm máy móc và bổ sung vốn của Công ty TNHH McNex ước đạt 535 tỷ đồng; Dự án xây đường cao tốc cầu Giẽ - Ninh Bình ước đạt 303 tỷ đồng; Dự án nâng cấp đê hữu Hoàng Long, sông Đáy kết hợp giao thông đoạn Bái Đính đi Kim Sơn ước đạt 290 tỷ đồng; Dự án quản lý, xử lý chất thải rắn tỉnh Ninh Bình ước đạt 262 tỷ đồng, Dự án nhà máy xi măng Hệ Dưỡng ước đạt 234 tỷ đồng; Dự án mua sắm máy móc thiết bị của Công ty TNHH May Phoenix ước đạt 146 tỷ đồng; Công ty TNHH Great Global International bổ sung vốn đầu tư ước đạt 137 tỷ đồng; Dự án xây dựng nhà xưởng nhà máy cán thép chất lượng cao Kyoei Việt Nam ước đạt 123 tỷ đồng; Dự án nạo vét lòng dẫn lũ sông Hoàng Long ước đạt 115 tỷ đồng...
Trong 10 tháng đầu năm, một số dự án, công trình đầu tư nước ngoài (nguồn vốn Hàn Quốc) được cấp phép mới đầu tư đến nay đã đi vào hoạt động như: Dự án sản xuất, gia công linh kiện, phụ kiện điện thoại di động YG ViNa với tổng vốn đầu tư là 52,7 tỷ đồng; Dự án sản xuất, gia công linh kiện điện tử Sanico Việt Nam với tổng vốn đầu tư 16,8 tỷ đồng; Dự án sản xuất, gia công linh kiện điện tử Sil Rang Electronics, với tổng vốn đầu tư 16,8 tỷ đồng...
Bên cạnh đó một số dự án bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp ngoài nhà nước: Dự án nhà máy xử lý cao su và plastic, với tổng vốn 70 tỷ đồng; Dự án nhà máy chế biến nông sản của Công ty giống cây trồng con nuôi Ninh Bình với tổng vốn 70 tỷ đồng cũng được cấp phép đầu tư trong năm 2014.
 4. Thương mại, giá cả, dịch vụ
4.1. Bán lẻ hàng hóa: Tổng mức bán lẻ hàng hoá trên thị trường toàn tỉnh 10 tháng  năm 2014 ước đạt 13.856,0 tỷ đồng, tăng 11,0% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo thành phần: Kinh tế cá thể đạt 8.994,8 tỷ đồng tăng 10,7%; Kinh tế tư nhân đạt 4.307,6 tỷ đồng, tăng 13,2%; Kinh tế Nhà nước đạt 553,3 tỷ đồng, tăng 0,6%; Kinh tế tập thể đạt 0,3 tỷ đồng, giảm 33,7%. Trong đó: Nhóm hàng lương thực thực phẩm 4.071,5 tỷ đồng, tăng 9,7%; nhóm hàng may mặc 1.352,2 tỷ đồng, tăng 8,3%; nhóm gỗ và VLXD 1.999,8 tỷ đồng, tăng 12,2%; Nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình 1.273,7 tỷ đồng, tăng 22,6%; hàng hóa khác 1.616,2 tỷ đồng, tăng 8,6%....
4.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Xuất khẩu: Ước tính tháng này giá trị xuất khẩu đạt gần 77,9 triệu USD, tăng 38,2% so với cùng tháng năm trước.
Tổng giá trị xuất khẩu 10 tháng năm 2014 ước đạt gần 654,4 triệu USD, tăng 34,1% so với cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn là: Quần áo các loại đạt trên 205,4 triệu USD; xi măng, clanke đạt 210,6 triệu USD; giầy dép khác đạt 113,7 triệu USD; linh kiện điện tử 92,4 triệu USD; cần gạt nước 11,2 triệu USD; sản phẩm cói gần 290 nghìn USD.
 Trong 10 tháng năm nay một số mặt hàng xuất khẩu đạt khá như: Quần áo các loại gần 36,3 triệu chiếc, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước; xi măng, clanke 5,2 triệu tấn, tăng 10,9%; sản phẩm cói khác 181 nghìn sản phẩm, tăng 97,2%; hàng thêu ren 324 nghìn sản phẩm, tăng 60,8%; găng tay các loại 7.398 nghìn đôi, tăng 60%; giầy dép khác 13,6 triệu đôi, tăng 13,8%; dứa, dưa chuột đóng hộp 1.536,5 tấn, tăng 99,4%. Một số sản phẩm mới xuất khẩu như linh kiện điện tử đạt 40,1 triệu sản phẩm với giá trị xuất khẩu đạt 92,4 triệu USD.... Tuy nhiên một số mặt hàng xuất khẩu lại giảm sút như: Thịt lợn đông lạnh giảm 54,9%; nước dứa cô đặc giảm 50%; túi nhựa giảm 21,1%; cần gạt nước giảm 31%; kính quang học giảm 32,4%.
Nhập khẩu: Giá trị nhập khẩu tháng này ước đạt 70,0 triệu USD, gấp gần 2,5 lần so với cùng tháng năm trước.
Tính chung lại, tổng giá trị nhập khẩu 10 tháng ước đạt gần 447,9 triệu USD, tăng 89,9% so với cùng kỳ năm trước. Trị giá các nhóm mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn là: Vải và phụ liệu may mặc 139,8 triệu USD; máy móc thiết bị phụ tùng 108,8 triệu USD; hàng điện tử gần 124 triệu USD; gỗ 20,3 triệu USD; phụ liệu sản xuất giầy dép 38,1 triệu USD.
4.3. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 10/2014 tăng 0,41% so với tháng trước, trong đó 3 nhóm có chỉ số giá tăng là nhóm giáo dục tăng 9,25% do thực hiện lộ trình tăng học phí của ngành giáo dục; tiếp đến là nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,69%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,38%. Các nhóm có chỉ số giá giảm là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,72% (do thực phẩm giảm 1,07%); nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 1,75%; nhóm may mặc, mũ nón giầy dép giảm 0,02%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 0,36%; nhóm giao thông giảm 1,14%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,05%. Hai nhóm giữ ổn định là nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm viễn thông.
Tính chung lại, chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh 10 tháng năm nay tăng 1,83% so với tháng 12 năm trước. Trong đó 8 nhóm có chỉ số giá tăng: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,26% (lương thực giảm 0,28%; thực phẩm tăng 2,16%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,78%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,3%; nhóm giáo dục tăng 9,28%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,79%; nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,41%... Chỉ 3 nhóm có chỉ số giá giảm là nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 1,44%; giao thông giảm 1,06%; viễn thông giảm 0,01%.
Chỉ số giá vàng tháng 10/2014 giảm 4,58% so với tháng trước; giảm 3,45% so với tháng 12/2013 và giảm 8,88% so với cùng kỳ năm 2013. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng này tăng 0,15% so với tháng trước; tăng 1,2% so với tháng 12/2013 và tăng 0,52% so với cùng kỳ năm trước .
4.4. Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hàng hóa 10 tháng năm 2014 ước đạt trên 28 triệu tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vận tải đường bộ đạt 14,5 triệu tấn, tăng 1,5%; vận tải đường sông đạt gần 12,6 triệu tấn, tăng 6,4%; vận tải đường biển 0,9 triệu tấn, tăng 10,3%. Khối lượng luân chuyển hàng hóa 10 tháng ước đạt 3.541,3 triệu tấn.km, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải đường bộ đạt 875,8 triệu tấn.km, tăng 7,3%; vận tải đường sông đạt 2.257 triệu tấn.km, giảm 1,4%; vận tải đường biển đạt 408,5 triệu tấn.km, giảm 22,5%. Doanh thu vận tải hàng hóa 10 tháng năm nay ước đạt 2.455,9 tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hành khách 10 tháng năm nay ước đạt trên 13,5 triệu lượt khách, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng luân chuyển hành khách ước đạt 815,4 triệu lượt khách.km, tăng 11,3%. Doanh thu vận tải hành khách 10 tháng ước đạt 513,1 tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước.
4.5. Du lịch
Trong tháng 10/2014 số lượng khách đến thăm quan du lịch tại các điểm du lịch ước đạt gần 122,6 nghìn lượt khách, trong đó khách trong nước trên 86,8 nghìn lượt; khách quốc tế trên 35,7 nghìn lượt. So với cùng kỳ năm trước tổng số khách đến các điểm du lịch tháng này giảm 4%; khách trong nước giảm 1,1%; khách quốc tế giảm 10,3%. Số ngày khách lưu trú 27,4 nghìn ngày khách, giảm 17,2% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu du lịch trong tháng ước đạt gần 36,6 tỷ đồng, giảm 10,7% so với 10/2013.
Tính chung lại, 10 tháng năm nay số lượng khách đến các điểm thăm quan du lịch ước đạt gần 3.918,2 nghìn lượt khách, giảm 4,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách trong nước đạt 3.503,5 nghìn lượt, giảm 3,9%; khách quốc tế 414,6 nghìn lượt giảm 4,8%. Số ngày khách lưu trú đạt 364,9 nghìn ngày khách, tăng 8,3%. Doanh thu du lịch 10 tháng ước gần 825,5 tỷ đồng, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước.
5. Một số vấn đề xã hội
5.1. Văn hóa thông tin
Hoạt động VHTT diễn ra phong phú và sôi nổi, hướng tới kỷ niệm ngày Quốc tế Người cao tuổi 1/10, ngày phụ nữ Việt Nam 20/10,...Phong trào văn nghệ quần chúng cũng thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia, góp phần gìn giữ và tôn vinh nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nhà hát chèo của tỉnh dàn dựng và tổ chức chương trình nghệ thuật phục vụ đông đảo khán giả trong và ngoài tỉnh.
Trung tâm phát hành phim và chiếu bóng đã thực hiện 74 buổi chiếu, phục vụ gần 5 nghìn lượt người xem; trong đó có 40 buổi chiếu phim lưu động phục vụ nhân dân các xã vùng sâu, vùng xa trong tỉnh. Thư viện tỉnh đã luân chuyển 2.880 nghìn lượt sách báo, phục vụ gần 2 nghìn lượt bạn đọc, cấp và đổi mới 34 thẻ bạn đọc. Trong tháng 9, bảo tàng tỉnh đón 650 lượt khách tham quan.
5.2. Thể dục thể thao
Trung tâm TDTT tỉnh tiếp tục tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo, huấn luyện nâng cao thành tích cho các VĐV tham gia các giải đấu trong nước và quốc tế, nhất là chuẩn bị cho Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII năm 2014 với các môn: Bóng chuyền trẻ, vật, cử tạ, karatedo, boxing, judo, điền kinh...
Phong trào thể thao quần chúng cũng diễn ra sôi nổi chuẩn bị cho giải quần vợt các CLB tỉnh diễn ra vào tháng 11, tổ chức thành công giải quần vợt và cầu lông Đảng ủy khối doanh nghiệp mở rộng năm 2014 với 120 VĐV tham dự.
5.3. Y tế
            Trong tháng 9, toàn tỉnh phát hiện 39 ca mắc bệnh chân tay miệng; 90 bệnh nhân sốt rét lâm sàng; xảy ra 10 ca ngộ độc thực phẩm lẻ tẻ, không có ca nào tử vong.
Công tác khám chữa bệnh luôn được quan tâm thực hiện: Tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh đã khám bệnh cho 71,8 nghìn lượt bệnh nhân; điều trị nội trú cho 6,8 nghìn lượt; khám phụ khoa 13,4 nghìn lượt; khám thai 10,6 nghìn lượt; đặt vòng 372 ca; triệt sản nữ 2 ca.
Công tác phòng chống HIV/AIDS: Phát hiện mới 16 người nhiễm HIV, chuyển sang AIDS 5 trường hợp, có 1 trường hợp tử vong do AIDS.
5.4. Giáo dục
Trong tháng, ngành giáo dục tỉnh đã tổ chức thi nghề phổ thông (THPT, BTTHPT) có 8.449 thí sinh dự thi 8 nghề trong đó nghề điện dân dụng chiếm 76,3%, thi học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh có 717 thí sinh của 17 trường tham gia 10 môn thi (Toán, vật lý, hóa học, sinh học, tin học, ngữ văn, lịch sử, địa lý, tiếng anh, tiếng pháp). Tổ chức kiểm tra công nhận trường THCS Khánh Hải đạt chuẩn Quốc gia và trường Tiểu học Gia Lạc, Gia Lập đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2. Tham dự giải bóng bàn Người Giáo viên nhân dân ” do Báo Giáo dục và Thời đại ” tổ chức lần thứ XII năm 2014 với 16 VĐV tham gia tập huấn chuẩn bị cho giải đấu.
Bộ trưởng Bộ Công an - Đại tướng Trần Đại Quang tặng 100 bộ máy vi tính cho ngành giáo dục tỉnh Ninh Bình trong đó: Sở GD&ĐT 10 bộ và THPT Nguyễn Huệ, Kim Sơn A, Đinh Tiên Hoàng, Yên Mô B mỗi trường 20 bộ, THPT Hoa Lư A 10 bộ.
5.5. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Trong tháng 9, toàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 3 người, xảy ra 18 vụ phạm pháp hình sự với 72 đối tượng, phát hiện 5 vụ buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma túy với 5 đối tượng.
Tính chung lại, trong 9 tháng đầu năm 2014, toàn tỉnh xảy ra 131 vụ tai nạn giao thông (trong đó có 3 vụ đường sắt),làm chết 39 người(tăng 87 vụ, giảm 4 người chết so với cùng kỳ năm trước),xảy ra 176 vụ phạm pháp hình sự với 816 đối tượng (giảm 7 vụ, tăng 541 đối tượng ), phát hiện 522 vụ buôn bán vận chuyển và tàng trữ ma túy với 613 đối tượng (tăng 350 vụ, tăng 418 đối tượng), xảy ra 16 vụ cháy thiệt hại 317 triệu đồng./.

 





CÁC BÀI KHÁC