Hôm nay, thứ 6 23/06/2017
Tìm kiếm:  

THÔNG TIN THỐNG KÊ THÁNG


 

BÁO CÁO  KINH TẾ-XÃ HỘI THÁNG 9 VÀ 9 THÁNG NĂM 2016

Bước vào thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2016 nền kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức như: Thời tiết không thuận lợi; thiên tai, bệnh dịch và nhất là ảnh hưởng của bão số 1 vào cuối tháng 7 đã gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống của nhân dân nhất là đối với sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó sản xuất công nghiệp gặp khó khăn trong cả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhiều sản phẩm công nghiệp có giá trị sản xuất cao và chiếm tỷ trọng lớn có mức sản xuất và tiêu thụ giảm sút; xuất khẩu chững lại sau thời gian tăng trưởng mạnh... Tuy nhiên, với sự tập trung lãnh đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND và sự nỗ lực phấn đấu của toàn dân, Tỉnh ta đã khắc phục những khó khăn, để đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực kinh tế -xã hội. Dưới đây là những kết quả đạt được trên các lĩnh vực chủ yếu:  

1. Sản xuất nông nghiệp

Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh cả năm 2016 ước đạt gần 105 nghìn ha, giảm 2,5% so với năm trước. Trong đó diện tích cây lương thực có hạt đạt trên 85,3 nghìn ha, giảm 0,9% (diện tích cây lúa đạt 78,7 nghìn ha, giảm 0,8%; diện tích cây ngô đạt trên 6,6 nghìn ha, giảm 2,3%).

Lúa đông xuân: Nhìn chung, vụ đông xuân năm nay thời tiết đầu vụ không thuận lợi, rét đậm, rét hại kéo dài ảnh hưởng đến diện tích mạ và diện tích lúa đã cấy nhưng được sự chăm sóc tốt của bà con nông dân nên vụ đông xuân năm nay năng suất lúa vẫn tiếp tục đạt cao. Năng suất lúa vụ đông xuân bình quân toàn tỉnh đạt 66,15 tạ/ha, tăng 0,3% (+0,17 tạ/ha); sản lượng lúa đạt 275,2 nghìn tấn, giảm 0,03% (-0,09 nghìn tấn) so với cùng vụ năm trước.

Lúa mùa: Diện tích gieo cấy lúa ước đạt trên 37,1 nghìn ha, giảm 1,3% (-507 ha) so với cùng vụ năm trước. Do ảnh hưởng của bão số 1 đã làm 7,7 nghìn ha lúa bị mất trắng phải gieo cấy lại, tuy nhiên một số diện tích trũng không tiêu được nước nên không thể gieo cấy lại được tập trung ở các huyện Nho Quan, Gia Viễn và Hoa Lư là 168 ha.

Đến nay đã có 26.065,6 ha lúa mùa đã trỗ, chiếm 70,3% diện tích, một số nơi đã thu hoạch lúa mùa sớm như huyện Nho Quan 200 ha. Toàn tỉnh có 6.390 ha lúa bị bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn (đã phòng trừ được 5.295 ha, diện tích bị nặng 1.520 ha); 22.441 ha bị sâu cuốn lá lứa 7 (đã phòng trừ được 19.408 ha, diện tích bị nặng là 19.741 ha); 11.085 ha bị bệnh khô vằn (đã phòng trừ được 9.950 ha, bị nặng 1.960 ha); 141,5 ha lúa bị chuột hại.  

Dự ước năng suất lúa vụ mùa năm nay đạt 52,9 tạ/hạ, giảm 0,6% (-0,3 tạ/ha); sản lượng đạt 196,3 nghìn tấn, giảm 2% (-4 nghìn tấn) so với cùng vụ năm trước.

Cây ngô: Diện tích gieo trồng ngô vụ mùa đạt gần 1,8 nghìn ha, giảm 7,2% (-139 ha); năng suất đạt 33,3 tạ/ha, giảm 1,8% (-0,6 tạ/ha); sản lượng đạt gần 6 nghìn tấn, giảm 8,7% (-569,4 tấn). Ước tính cả năm diện tích gieo trồng ngô đạt trên 6,6 nghìn ha, giảm 2,3% (-158,1 ha); năng suất đạt 35,5 tạ/ha, tăng 11,5% (+3,7 tạ/ha); sản lượng đạt 23,5 nghìn tấn, tăng 8,9% (+1,9 nghìn tấn).

Cây rau đậu và cây công nghiệp: Diện tích cây rau đậu vụ mùa năm nay ước đạt trên 2 nghìn ha, tăng 3,3% (+64,8 ha), trong đó cây rau đạt gần 1,8 nghìn ha, tăng 8,4% (+136,7 ha), cây đậu đạt 0,3 nghìn ha, giảm 19,3% (-71,9 ha); sản lượng rau ước đạt 27,5 nghìn tấn, tăng 8,6% (+2,2 nghìn tấn); sản lượng đậu ước đạt 369,3 tấn, giảm 20,1% (-92,8 tấn).

Diện tích cây công nghiệp hàng năm vụ mùa gieo trồng đạt 1,7 nghìn ha, giảm 5,6% (-101,8 ha) so với cùng vụ năm trước, trong đó cây lạc đạt 506,5 ha, giảm 0,5% (-2,7 ha), cây đỗ tương đạt 219,8 ha, giảm 33% (-108,2 ha). Sản lượng lạc đạt trên 1,0 nghìn tấn, giảm 3,8% (-41,3 tấn).

Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi 9 tháng đầu năm nay có dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước, nhiều hộ chăn nuôi đã đầu tư tái đàn, nhất là các hộ có lợi thế từ nguồn thức ăn được tận dụng từ các hoạt động chế biến nông sản thực phẩm, các hộ nuôi công nghiệp có quy mô lớn tận dụng phụ phẩm để sử dụng như hầm biôgas, làm thức ăn nuôi cá...

Đến thời điểm này, đàn trâu ước đạt 15,3 nghìn con, giảm 0,1%; đàn bò ước đạt 40,7 nghìn con, tăng 23,4%; đàn lợn ước đạt 440,4 nghìn con, tăng 4,7%; đàn gia cầm ước đạt 5,3 triệu con tăng 11%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm ước đạt 0,9 nghìn tấn, tăng 4,9%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt gần 1,8 nghìn tấn, tăng 10,8%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt trên 38,6 nghìn tấn, tăng 4,6%; sản lượng thịt gia cầm ước đạt 7,2 nghìn tấn, tăng 8,6% so với cùng kì năm trước.

Trong 9 tháng toàn tỉnh đã tiêm phòng được 2,5 triệu liều vắc xin cúm gia cầm; 27,9 nghìn liều vắc xin dại; 213,6 nghìn liều vắc xin dịch tả cho lợn; 8,7 nghìn liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò. Chi cục thú y đã cấp hóa chất cho các huyện, thành phố để khử trùng tiêu độc môi trường, chuồng trại và phòng dịch bệnh, trong đó: 10 nghìn lít RTD; 2 nghìn lít Han Iodine; 3.000 lít IOD; 5.000 kg VICATO và 3.800 lít TC-01.

Lâm nghiệp: Sản xuất lâm nghiệp trong 9 tháng đầu năm vẫn duy trì bình thường. Công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng được kiểm soát và chỉ đạo chặt chẽ, không có vụ cháy rừng, chặt phá rừng và buôn bán động vật trái phép nào xảy ra. Tính đến thời điểm này, toàn tỉnh đã trồng được 0,7 nghìn cây phân tán, tăng 27% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng được chăm sóc là gần 1 nghìn ha; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh gần 1 nghìn ha; diện tích rừng được giao bảo vệ gần 12 nghìn ha. Ươm nuôi giống cây lâm nghiệp 280 nghìn cây.

Thủy sản: Đến nay, sản xuất thủy sản chủ yếu vẫn là hình thức nuôi quảng canh cải tiến và bán thâm canh, còn thâm canh vẫn ở quy mô nhỏ; cơ sở hạ tầng vùng sản xuất còn rất hạn chế, manh mún, thiếu kiểm soát nên việc đầu tư vốn và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế. Tuy nhiên các đối tượng nuôi đã từng bước được đa dạng hơn, một số địa phương đã xây dựng được những vùng sản xuất tập trung cho hiệu quả kinh tế cao.

Trong 9 tháng năm nay sản lượng thủy sản ước đạt 32,1 nghìn tấn, tăng 3,6% (+1,12 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 27,2 nghìn tấn, tăng 3,3% (+0,88 nghìn tấn), trong đó: cá ước đạt 15,7 nghìn tấn, tăng 2,8%; tôm ước đạt 0,64 nghìn tấn, tăng 18,3%; thủy sản khác ước đạt gần 10,9 nghìn tấn, tăng 3,4%. Sản lượng thủy sản khai thác ước đạt trên 4,9 nghìn tấn, tăng 5,4% (+0,24 nghìn tấn); trong đó cá ước đạt 3,2 nghìn tấn, tăng 6,9%; tôm ước đạt gần 0,4  nghìn tấn, tăng 0,6%; thủy sản khác ước đạt 1,3 nghìn tấn, tăng 3,2%.

2. Sản xuất công nghiệp

Trong 9 tháng đầu năm nay, một số ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn như sản xuất phân bón và sản xuất thiết bị điện tử có mức sản xuất giảm sút đã ảnh hưởng đến giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Nguyên nhân chủ yếu là do công ty TNHH MTV đạm Ninh Bình dừng sản xuất trong nhiều tháng do các sự cố về máy móc thiết bị và tình hình tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, giá thành sản phẩm cao nên khó cạnh tranh với đạm nhập khẩu. Trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm điện tử trong 9 tháng đầu năm công ty TNHH MCNEX Vina có sự thay đổi lớn về cơ cấu sản phẩm, sản phẩm có giá trị cao chỉ chiếm 10,7% trong tổng khối lượng sản phẩm của Công ty  ( 9 tháng năm 2015 tỷ trọng này chiếm tới 49,6%)   nên doanh thu của công ty 9 tháng đầu năm ước chỉ đạt 4,4 nghìn tỷ đồng (giảm 23,2% so với cùng kỳ năm trước). Bên cạnh đó,nhà máy Kính nổi Tràng An của công ty TNHH Dương Giang dừng sản xuất từ tháng 7 để đại tu dây truyền đến nay vẫn chưa đi vào hoạt động trở lại; Một số nhà máy sản xuất gạch tuynel tạm dừng sản xuất trong các tháng 8 và tháng 9 để khắc phục sự cố sau cơ bão số 1 như: Công ty TNHH gạch ngói Gia Thanh; Nhà máy gạch Khánh Dương của công ty TNHH Trường Thành...

Chỉ số phát triển công nghiệp (IIP) toàn tỉnh tháng này ước tính tăng 2,03 % so với cùng tháng năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,3%; công nghiệp chế biến tăng 2,63%; công nghiệp sản xuất, PP điện giảm 4,64%; sản xuất cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,07%. Tính chung lại IIP 9 tháng đầu năm giảm 1,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai thác mỏ giảm 7,57%; công nghiệp chế biến giảm 0,56%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện giảm 12,73%; riêng công nghiệp cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,82%.

Ước tính giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 9 tháng 2016 (theo giá so sánh 2010- tính theo giá sản xuất) ước đạt 24.258,8 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước và đạt 65,2% kế hoạch năm. Trong đó: Công nghiệp khai thác mỏ đạt 167,8 tỷ đồng, giảm 12,6%; công nghiệp chế biến đạt 23.466,7 tỷ đồng, giảm 1,6%; Sản xuất phân phối điện, khí đốt đạt 524,4 tỷ đồng, giảm 11,7%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải đạt 99,8 tỷ đồng, tăng 6,9%.

Các sản phẩm có mức sản xuất giảm sút là: Đá các loại đạt 2.342,5 nghìn m3, giảm 15,4%; dưa chuột đóng hộp 46,6 tấn, giảm 87,7%; thức ăn gia súc 4.515,8 tấn, giảm 72,9%; giày, dép vải đạt 15,3 triệu đôi, giảm 1,4%; phân Ure 130,4 nghìn tấn, giảm 52,9%; phân lân nung chảy 83,4 nghìn tấn, giảm 6,1%; kính nổi đạt 37,5 nghìn tấn, giảm 35,7%; gạch xây bằng đất nung đạt 208,2 triệu viên, giảm 12,3%; modul camera 11,4 triệu cái; giảm 53,1%; kính máy ảnh 2,9 triệu cái, giảm 7,8%; cần gạt nước ô tô đạt 4,9 triệu cái, giảm 45,1%; điện sản xuất 310,5 triệu Kwh, giảm 26,6%...

Bên cạnh đó, một số sản phẩm đạt mức tăng trưởng khá như: Ngô ngọt đóng hộp 2.459,6 tấn, tăng 65,1%; dứa đóng hộp 4.701,8 tấn, gấp hơn 2,7 lần; nước quả và nước rau ép 1.493,1 nghìn lít, tăng 2,8%; mì ăn liền đạt 670 tấn, tăng 34%; quần áo các loại 37,3 triệu cái, tăng 8,9%; phân hỗn hợp NPK 81,0 nghìn tấn, tăng 58,2%;  xi măng + clanke đạt 8.737,9 nghìn tấn, tăng 9,3%; thép cán các loại 205,6 nghìn tấn, tăng 22,6%; cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại 6.414,3 tấn, gấp gần 2,4 lần; tai nghe điện thoại di động 15,5 triệu cái, gấp gần 2,3 lần; Linh kiện điện tử đạt 150,9 triệu cái, tăng 58,1%;  xe ô tô 5-14 chỗ 4.236 chiếc, tăng 69,8%; đồ chơi hình con vật 4.303,5 nghìn con, tăng 87,9%; điện thương phẩm 1.437,2 triệu kwh, tăng 7,4%; nước máy thương phẩm 10.935,2 nghìn m3, tăng 11,9%.

   Một số ngành có chỉ số tồn kho tháng này tăng cao so với cùng tháng năm trước là: Sản xuất chế biến thực phẩm 181,82%; sản xuất trang phục 115,46% ...

Với kết quả đạt được trong 9 tháng đầu năm 2016, dự báo tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quý 4 sẽ thuận lợi hơn quý 3, tuy nhiên nếu công ty TNHH MTV Đạm Ninh Bình chưa hoạt động trở lại, nhà máy kính nổi Tràng An tiếp tục dừng sản xuất để đại tu, trong khi chưa có những đơn vị sản xuất công nghiệp mới bổ sung thì nhiệm vụ thực hiện mục tiêu kế hoạch sản xuất công nghiệp cả năm 2016 sẽ gặp khó khăn.

3. Vốn đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư phát triển 9 tháng đầu năm nay ước đạt 15.217,9 tỷ đồng, giảm  6,1% so với cùng kỳ năm trước và đạt 89,8% kế hoạch năm. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước đạt 1.081,5 tỷ đồng, giảm 4,9%; vốn tín dụng đạt 410,7 tỷ đồng, gấp 3,4 lần; vốn trái phiếu Chính phủ đạt 536,2 tỷ đồng, giảm 61,2%; vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 7.702,9 tỷ đồng, giảm 6,7%; vốn trong dân cư đạt 4.605,1 tỷ đồng, tăng 9,0%; Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 663,1 tỷ đồng, giảm 4,3%.

Vốn đầu tư 9 tháng đầu năm nay tập trung chủ yếu ở một số công trình trọng điểm và công trình có khối lượng thực hiện lớn như: Dự án đường tránh quốc lộ 1 thành phố Ninh Bình ước đạt 230 tỷ đồng; dự án đường kết nối cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình giai đoạn hai ước đạt 248 tỷ đồng; Dự án nâng cấp đê hữu Hoàng Long, sông Đáy kết hợp giao thông đoạn Bái Đính đi Kim Sơn ước đạt 50 tỷ đồng; Dự án xây dựng Trụ sở huyện ủy - HĐND - UBND & Hội trường trung tâm ước đạt 87 tỷ đồng; Dự án xây dựng hệ thống gạt lũ và trạm bơm tiêu úng 6 xã nghèo trong vùng đê Năm Căn ước đạt 64 tỷ đồng; Dự án xây dựng của công ty TNHH sản xuất giầy CHUNG JYE-VN ước đạt 142 tỷ đồng; Dự án xây dựng và lắp đặt thiết bị của công ty TNHH một thành viên Điện lực Ninh Bình ước đạt 127 tỷ đồng...

4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

  4.1. Bán lẻ hàng hóa:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2016 ước đạt 15.595,2 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: kinh tế nhà nước đạt 360,5 tỷ đồng, giảm 13,1%; kinh tế cá thể đạt 10.505,2 tỷ đồng, tăng 11,2%; kinh tế tư nhân đạt 4.729,2 tỷ đồng, tăng 15,7%.

So với 9 tháng năm 2015, một số nhóm mặt hàng có sức mua tăng mạnh như: ô tô các loại 1.264,0 tỷ đồng, gấp gần 2,2 lần; nhóm nhiên liệu khác đạt 337,4 tỷ đồng, tăng 24,3%; nhóm gỗ và VLXD 2.501,9 tỷ đồng, tăng 18,1%; nhóm sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 366,4 tỷ đồng, tăng 15,9%; nhóm lương thực, thực phẩm gần 4.720,0 tỷ đồng, tăng 14,4%... Bên cạnh đó một số nhóm mặt hàng lại có sức mua giảm, cụ thể: nhóm hàng hóa khác 1.267,2 tỷ đồng, giảm 8,2%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục 135,9 tỷ đồng, giảm 7,6%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình 1.156,4 tỷ đồng, giảm 6,6%; nhóm xăng, dầu các loại 1.411,9 tỷ đồng, giảm 4,3%.

4.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

 Xuất khẩu: Ước tính giá trị xuất khẩu tháng này đạt gần 85,8 triệu USD, tăng 4,3% so với cùng tháng năm trước.

Tổng giá trị xuất khẩu 9 tháng năm 2016 ước đạt gần 700,8 triệu USD, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn là: Quần áo các loại đạt 168,8 triệu USD; xi măng, clanke đạt 169,7 triệu USD; giầy dép khác đạt 125,1 triệu USD; camera và linh kiện điện thoại đạt 144,1 triệu USD; cần gạt nước ô tô hơn 4,9 triệu USD; linh kiện điện tử 23,3 triệu USD; phôi nhôm đạt gần 20,0 triệu USD…

 Một số sản phẩm xuất khẩu giảm sút so với cùng kỳ năm trước như: Túi nhựa 1,5 nghìn tấn, giảm 16,2%; cần gạt nước 4.976,4 nghìn chiếc, giảm 31,1%; kính quang học 2.889,8 nghìn chiếc, giảm 15,8%... Bên cạnh đó một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực giảm sút về giá trị xuất khẩu mặc dù sản lượng xuất khẩu vẫn tăng như: Quần áo các loại sản lượng đạt 27,8 triệu chiếc, tăng 55,3%, tuy nhiên giá trị lại giảm 6,3%; xi măng + clanke sản lượng đạt 4.743,2 nghìn tấn, tăng 8,2%, giá trị lại giảm 9,5%; camera và linh kiện điện thoại lượng đạt 36,2 triệu sản phẩm, tăng 3,3%, giá trị lại giảm 29%.

Một số mặt hàng xuất khẩu vẫn đạt khá so với cùng kỳ năm trước như: Dứa, dưa chuột đóng hộp 4,3 nghìn tấn, gấp 4,7 lần; thịt lợn đông lạnh 271 tấn, tăng 11,8%; hàng thêu ren 338,9 nghìn chiếc, tăng 9%; giầy dép khác 16,5 triệu đôi, tăng 18,2; phôi nhôm 11,2 nghìn tấn, tăng 90,2%; linh kiện điện tử 23,3 nghìn USD, gấp gần 3,6 lần…

 Nhập khẩu: Giá trị nhập khẩu tháng này ước đạt 66,2 triệu USD, giảm 14,6% so với cùng tháng năm trước.

Tính chung lại, tổng giá trị nhập khẩu 9 tháng ước đạt gần 592,1 triệu USD, tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước. Trị giá các nhóm mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn là: Vải và phụ liệu may mặc 170,0 triệu USD; phụ liệu sản xuất giầy dép 50,9 triệu USD;  linh kiện điện tử 189,8 triệu USD; ô tô 9 chỗ trở xuống 57,0 triệu USD; máy móc thiết bị phụ tùng 18,7 triệu USD.

4.3. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng chung trên thị trường toàn tỉnh tháng 9/2016 tăng 0,45% so với tháng trước. Trong đó, tăng mạnh nhất là nhóm giáo dục tăng 14,74%, nguyên nhân chính là do việc học phí các cấp học đồng loạt tăng cao theo Nghị quyết số 25 và Nghị quyết số 26 ngày 04/8/2016 của Hội đồng nhân dân Tỉnh về việc quy định mức học phí của các cấp học... áp dụng từ năm học 2016 – 2017 đến năm học 2020 – 2021, đã đẩy chỉ số giá nhóm giáo dục  tăng 14,74% so với tháng trước. Cùng có chỉ số tăng có các nhóm: nhóm giao thông tăng 0,47%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,32%; nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,19%; nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình và nhóm đồ uống, thuốc lá tăng nhẹ lần lượt là 0,04% và 0,02%. Ba nhóm có chỉ số giảm so với tháng trước gồm: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 3,21%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,28%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,02% (trong đó, lương thực tăng 0,52%, thực phẩm tăng 0,17%, ăn uống ngoài gia đình giảm 0,64%). Hai nhóm còn lại vẫn giữ ổn định.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng này tăng 3,27% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,88% so với cùng tháng năm trước. Tính chung lại, chỉ số giá bình quân chung toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2016 tăng 2,44% so với bình quân 9 tháng đầu năm 2015.  

Chỉ số giá vàng tháng 9/2016 giảm 0,82% so với tháng trước và tăng 12,19% so với tháng 12 năm trước; chỉ số giá bán lẻ đô la Mỹ tăng 0,08% so với tháng trước và giảm 0,72% so với tháng 12 năm 2015.

4.4. Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong 9 tháng năm 2016 ước đạt gần 35,3 triệu tấn, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vận tải đường bộ đạt gần 17,5 triệu tấn, tăng 17,2%; vận tải đường sông đạt 16,8 triệu tấn, tăng 27,0%; vận tải đường biển gần 1,0 triệu tấn, giảm 6,1%. Khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt trên 4.884,4 triệu tấn.km, tăng 22,4 so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải đường bộ đạt 994,6 triệu tấn.km, tăng 24,0%; vận tải đường sông đạt 3.438,1 triệu tấn.km, tăng 26,3%; vận tải đường biển đạt 451,7 triệu tấn.km, giảm 3,2%.

Vận tải hành khách: Ước tính khối lượng hành khách vận chuyển 9 tháng đầu năm nay đạt gần 14,6 triệu lượt khách, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vận tải đường bộ đạt 12,7 triệu lượt khách, tăng 21,7%, vận tải đường sông đạt 1,8 triệu lượt khách, tăng 8,3%. Khối lượng luân chuyển hành khách ước đạt 919,4 triệu lượt khách.km, tăng 22,0%. Trong đó: vận tải đường bộ gần 911,7 triệu lượt khách.km, tăng 22,2%; vận tải đường sông 7,7 triệu lượt khách.km, tăng 3,4%.

 Doanh thu vận tải: Trong 9 tháng ước đạt trên 4.277,3 tỷ đồng, tăng 24,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vận tải đường bộ 2.377,4 tỷ đồng, tăng 21,0%; vận tải đường thủy 1.605,3 tỷ đồng, tăng 25,3%; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 294,5 tỷ đồng, tăng 50,8%.

4.5. Du lịch

Trong thời gian qua việc quảng bá rộng rãi vẻ đẹp thiên nhiên đa dạng và phong phú của Ninh Bình đến đông đảo các du khách trong và ngoài nước, cùng với việc một số khu du lịch của Ninh Bình trong thời gian vừa qua xuất hiện nhiều hơn trong các bộ phim điện ảnh trong nước cũng như quốc tế. Bên cạnh đó, ngành du lịch của Tỉnh đã chú trọng phát triển du lịch một cách bền vững, tạo thêm nhiều điểm nhấn nhằm thu hút khách du lịch đến với Ninh Bình. Ước tính 9 tháng đầu năm nay, lượng khách đến các điểm tham quan du lịch trong tỉnh đạt trên 5.541,9 nghìn lượt khách, trong đó khách trong nước đạt 5.008,3 nghìn lượt khách, khách quốc tế đạt 533,6 nghìn lượt khách. So với 9 tháng năm 2015, tổng lượt khách tăng 7,1%; trong đó khách trong nước tăng 5,6%, khách quốc tế tăng 23,1%. Số ngày khách lưu trú qua đêm đạt gần 540,0 nghìn ngày khách, tăng 27,0%. Doanh thu du lịch ước đạt 1.455,4 tỷ đồng, tăng 22,4%.

5. Một số vấn đề xã hội

5.1. Đời sống dân cư.

Tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm 2016 nhìn chung tương đối ổn định. Công tác giảm nghèo thường xuyên được quan tâm, hỗ trợ về mọi mặt, giúp các hộ nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn đảm bảo đời sống, yên tâm phát triển sản xuất và vươn lên thoát nghèo bền vững. Xây dựng nông thôn mới tiếp tục được các cấp, các ngành, các địa phương triển khai có hiệu quả. Triển khai tốt các chương trình, giải pháp tạo việc làm và chính sách phát triển thị trường lao động như: Thực hiện hiệu quả các chính sách ưu đãi, thu hút các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp, các làng nghề; tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn thông qua nguồn vốn quỹ quốc gia giải quyết việc làm.

Trong 8 tháng đầu năm nay đã giải quyết việc làm cho trên 11,8 nghìn lao động, trong đó 277 lao động xuất khẩu; đào tạo nghề cho trên 9 nghìn lao động; giải quyết cho 73 hộ vay vốn với mức vay từ 10-20 triệu đồng/hộ, thông qua đó đã duy trì việc làm thường xuyên cho 162 lao động.

Công tác đền ơn đáp nghĩa cũng được quan tâm thực hiện, nhân kỷ niệm ngày thương binh liệt sỹ 27/7 các cấp, các ngành đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công và các đối tượng chính sách với tổng kinh phí trên 11,8 tỷ đồng.

5.2. Văn hóa thông tin

Hoạt động văn hóa thông tin 9 tháng đầu năm 2016 diễn ra sôi nổi và thiết thực kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, các sự kiện lớn của địa phương như: Kỷ niệm 86 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân mới Bính Thân 2016; chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; Kỷ niệm 41 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30/4 và Quốc tế lao động 01/5; Kỷ niệm 126 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2016)); 70 năm cách mạng tháng 8 và Quốc khánh (2/9), đặc biệt chào mừng thành công cuộc Bầu cử Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021... Các hoạt động diễn ra phong phú như: Tuyên truyền, cổ động trực quan, chăng treo pano, tuyên truyền lưu động, tổ chức triển lãm, tổ chức giao lưu văn hoá, thể thao, biểu diễn các chương trình nghệ thuật... tạo không khí vui tươi phấn khởi đối với nhân dân trong tỉnh.

Trong 9 tháng, nhà hát chèo đã thực hiện 130 buổi diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân. Trung tâm phát hành phim và chiếu bóng đã thực hiện 730 buổi chiếu, phục vụ trên 44 nghìn lượt người xem; trong đó có 326 buổi chiếu phim lưu động phục vụ nhân dân các xã vùng sâu, vùng xa trong tỉnh.

5.3. Thể dục thể thao

Hoạt động thể dục thể thao diễn ra sôi nổi ở cả thể thao thành tích cao và phong trào thể thao quần chúng, tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo, huấn luyện nâng cao thành tích cho các VĐV tham gia các giải đấu trong nước và quốc tế.

Trong 9 tháng đầu năm, đoàn vận động viên của tỉnh tham gia thi đấu 36 giải thể thao quốc gia, quốc tế đoạt 163 huy chương (trong đó 74 HCV, 52 HCB, 37 HCĐ) vượt 25,3%  kế hoạch năm, trong đó 39 huy chương tham gia thi đấu ở giải quốc tế (31 HCV, 07 HCB, 01 HCĐ). Đặc biệt các VĐV của Ninh Bình đoạt 08 HCV, 05 HCB tại giải vô địch Cờ vua trẻ Đông Nam Á năm 2016 (tại Pattya - Thái Lan); 01 HCĐ tại giải vô địch Karatedo Đông Nam Á năm 2016 (tại Malaysia); 01 HCV, 03 HCB, 03 HCĐ tại giải Vô địch trẻ Vật Đông Nam Á 2016 (tại Thái Lan).

 Đội bóng chuyền hạng mạnh Tràng An Ninh Bình thi đấu vòng I giải bóng chuyền vô địch quốc gia PV Gas năm 2016 tại Hải Dương. Kết quả: xếp thứ 2 (bảng B); đạt giải khuyến khích vòng chung kết cúp Hùng Vương.

Thể thao Ninh Bình cũng đã phối hợp tổ chức thành công một số giải thi đấu tại nhà thi đấu TDTT tỉnh như: Giải Bóng chuyền nữ quốc tế Cúp VTV Bình Điền lần thứ X; tổ chức Vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo Robot Việt Nam lần thứ XV năm 2016; phối hợp với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Ninh Bình tổ chức Hội thao BIDV khu vực III năm 2016...

Bên cạnh đó, các hoạt động thể thao quần chúng cũng diễn ra khá sôi nổi, toàn tỉnh đã tổ chức được trên 600 cuộc thi đấu TDTT ở cơ sở; số người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên đạt 28,5%; tỷ lệ gia đình thể thao đạt 24,3%; có trên 600 câu lạc bộ TDTT cơ sở; số trường thực hiện giáo dục thể chất đảm bảo chất lượng 100%; số trường hoạt động ngoại khóa thường xuyên là 83%. Toàn tỉnh hiện có 605 sân cầu lông (trong đó có 111 nhà tập cầu lông), 125 sân thể thao cơ bản, 445 sân bóng đá, 68 sân quần vợt. Đặc biệt tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khoẻ toàn dân, kết hợp với Lễ kỷ niệm 70 năm ngày thể thao Việt Nam, thu hút hàng nghìn người tham gia và cổ vũ; tổ chức giải bóng đá Nhi đồng cúp Phát thanh truyền hình;  tổ chức giao hữu quần vợt, cầu lông, bóng bàn tại các Câu lạc bộ trong tỉnh.

5.4. Y tế[1]

Ngành y tế tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến về phòng chống dịch bệnh và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường; có phương án chủ động đối phó với dịch bệnh có thể xảy ra, đặc biệt là các loại dịch bệnh nguy hiểm như: tiêu chảy cấp nguy hiểm, dịch cúm A (H1N1, H5N1), tay chân miệng, phòng chống bện do vi - rút Zika,  sốt xuất huyết ... Trung tâm y tế dự phòng có phương án thường trực, dự trữ cơ số thuốc, dịch truyền, vật tư, hoá chất, phương tiện cần thiết cho phòng chống dịch.

Trong 8 tháng đầu năm 2016, toàn tỉnh đã phát hiện 68 ca mắc bệnh chân tay miệng; 2 bệnh nhân sốt rét lâm sàng; xảy ra 621 ca ngộ độc thực phẩm lẻ tẻ, không có tử vong.

Công tác khám chữa bệnh luôn được quan tâm thực hiện: Tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh đã khám bệnh cho gần 622 nghìn lượt bệnh nhân; điều trị nội trú cho 117,2 nghìn lượt; khám phụ khoa 79 nghìn lượt; khám thai 41,8 nghìn lượt; đặt vòng 1.928 ca; triệt sản nữ 9 ca.

Công tác phòng chống HIV/AIDS: phát hiện mới 48 người nhiễm HIV, chuyển sang giai đoạn AIDS 43 trường hợp, trong đó có 12 trường hợp tử vong.

5.5. Giáo dục

Trong 9 tháng năm nay, ngành giáo dục của tỉnh tổ chức thành công kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia và kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10. Trong kỳ thi  tốt nghiệp THPT quốc gia, Ninh Bình duy trì ở tốp các tỉnh dẫn đầu cả nước, có điểm trung bình các môn thi cao thứ 4 toàn quốc. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT toàn tỉnh đạt 97,41% (trong đó cụm thi đại học đạt 99,15%; cụm thi tốt nghiệp đạt 94,92%). Đặc biệt, tỷ lệ đạt 15 điểm trở lên theo ngưỡng xét tuyển đại học năm 2016 đạt 76,64%, trong đó có em Bùi Xuân Dự, học sinh trường THPT Kim Sơn A đạt thủ khoa 3 khối thi A, A1 và khối D.

Bên cạnh đó ngành Giáo dục và đào tạo Ninh Bình cũng đã đạt được nhiều thành tích cao trong các kỳ thi cấp quốc gia năm học 2015-2016, cụ thể: 50 giải học sinh giỏi Quốc gia cấp THPT (gồm 11 giải Nhì, 19 giải Ba và 20 giải Khuyến khích); 25 giải học sinh giỏi giải Toán trên máy tính cầm tay cấp Quốc gia; 5 giải tại Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp Quốc gia dành cho học sinh trung học; 50 giải thi giải toán qua internet; 76 giải thi Tiếng Anh qua internet toàn quốc; 6 giải tại Hội thi tài năng Tiếng Anh cấp quốc gia; đặc biệt là 01 huy chương vàng tại triển lãm Sáng tạo khoa học kỹ thuật quốc tế...

Cũng trong 9 tháng, ngành giáo dục cũng đã tổ chức thành công nhiều kỳ thi cấp tỉnh như: Cuộc thi Vô địch TOEFL Primary dành cho học sinh tiểu học và cuộc thi Vô địch TOEFL Junior dành cho học sinh THCS năm học 2015-2016; cuộc thi Olympic Tiếng Anh trên Internet cấp tỉnh; tổ chức thi chọn học sinh giỏi, học viên giỏi giải toán trên máy tính cầm tay; thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh dành cho học sinh trung học; thi dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trung học và cuộc thi vận dụng kiến thức môn để giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh trung học; thi giáo viên dạy giỏi cấp THPT lần thứ VII; thi giáo viên dạy giỏi cấp học mầm non…

5.6. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội[2]

Trong 8 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 114 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 1 vụ tai nạn giao thông đường sắt, làm chết 28 người và thương 94 người (tăng 15 vụ so với cùng kỳ năm trước); xảy ra 194 vụ phạm pháp hình sự với 194 đối tượng (tăng 61 vụ và 40 đối tượng), phát hiện và xử lý 137 vụ buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma túy với 148 đối tượng (giảm 306 vụ và giảm 353 đối tượng).

5.7. Tình hình thiên tai, cháy nổ, bảo vệ môi trường

Cơn bão số 1 đã làm gần 16,3 nghìn ha lúa mới cấy bị ngập úng, trong đó mất trắng trên 7,7 nghìn ha; 1.767,6 ha hoa màu bị hư hại; 247,9 ha cây ăn quả bị gãy đổ; trên 18,8 nghìn con gia cầm và 176 con lợn bị chết; 466,4 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng. Làm sập 55 ngôi nhà, làm tốc mái 7.679 ngôi nhà và làm ngập, hư hỏng 74 phòng học; làm đổ, gãy 1.090 cột điện  hạ thế, 180 cột điện trung thế và cao áp, 218 cột đường dây thông tin, trên 24,3 nghìn mét tường rào… Tổng thiệt ước tính gần 361 tỷ đồng.

Trên địa bàn tỉnh, trong 8 tháng đã xảy ra 9 vụ cháy, gây thiệt hại gần 56 triệu đồng.

 

 




CÁC BÀI KHÁC