Hôm nay, chủ nhật 29/01/2023
Tìm kiếm:  

THÔNG TIN THỐNG KÊ THÁNG


BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG TƯ NĂM 2022

 

 

   1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng là tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho các loại cây trồng vụ Xuân; triển khai phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm, thủy sản; đẩy mạnh công tác trồng rừng, tăng cường quản lý, phòng chống cháy rừng và thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng giống thủy sản, đặc biệt là tôm giống nhập vào địa bàn.

1.1. Nông nghiệp

1.1.1. Trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Xuân năm 2022 đạt 46,4 nghìn ha, giảm 1,9 nghìn ha (- 1,8%) so với cùng vụ năm trước. Trong đó, diện tích lúa ước đạt 39,9 nghìn ha giảm 0,04 nghìn ha (- 0,1%); diện tích ngô ước đạt 1,6 nghìn ha tăng 0,04 nghìn ha (+ 2,9%); diện tích khoai lang ước đạt 0,1 nghìn ha, giảm 0,03 nghìn ha (- 20,0%); diện tích cây thuốc lào ước đạt 0,1 nghìn ha, giảm 0,02 nghìn ha (- 13,7%); diện tích cây lạc ước đạt 1,9 nghìn ha, giảm 0,25 nghìn ha (- 11,5%); diện tích rau, đậu các loại và cây khác diện tích ước đạt 2,7 nghìn ha, tăng 0,4 nghìn ha (+ 14,2%) so với cùng vụ năm trước. Nguyên nhân diện tích gieo trồng vụ Xuân năm 2022 tiếp tục giảm một mặt do việc thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng, mặt khác do chuyển đổi một số diện tích lúa cấy kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, trồng cây lâu năm...

Đến nay, toàn tỉnh có 21,0 nghìn ha lúa được chăm sóc lúa đợt 2, bằng 52,5% diện tích lúa đã cấy; diện tích lúa trỗ là 0,7 nghìn ha, bằng 1,8% (trong đó ở huyện Nho Quan 0,5 nghìn ha, huyện Gia Viễn 0,2 nghìn ha).

Tình hình sâu bệnh: Trên diện tích lúa đã cấy xuất hiện các loại sâu bệnh gây hại rải rác. Đến 19/4/2022, diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá trên toàn tỉnh là 2,3 ha, diện tích nhiễm khô vằn 250 ha; quy mô, mức độ hại thấp hơn nhiều so với cùng thời điểm của vụ Đông Xuân năm trước. Bà con nông dân cần theo dõi chặt chẽ diễn biến các đối tượng sinh vật hại trên các cây trồng để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

1.1.2. Chăn nuôi

Trong tháng, hoạt động chăn nuôi thực hiện tốt công tác tái đàn, phòng, chống dịch bệnh nên tổng đàn gia súc, gia cầm ước đều tăng so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó đàn trâu ước đạt 12,8 nghìn con, tăng 1,4%; đàn bò ước đạt 36,9 nghìn con, tăng 0,2%.

Tại thời điểm báo cáo, đàn lợn ước đạt 267,4 nghìn con, tăng 3,5% so với cùng thời điểm năm trước. Tình hình dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục được kiểm soát tốt, đến ngày 20/4/2022 trên địa bàn tỉnh chỉ còn 12 xã thuộc 4 huyện dịch bệnh chưa qua 21 ngày. Số lượng lợn bị mắc dịch đã tiêu hủy tính từ đầu năm đến hết ngày 20/4/2022 là 2.540 con, trọng lượng tiêu hủy là 113,5 tấn. Các địa phương tiếp tục tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh để dịch không bùng phát trở lại.

Đàn gia cầm tại thời điểm báo cáo ước đạt gần 6,1 triệu con, tăng 4,5%; trong đó, đàn gà đạt 4,2 triệu con, tăng 3,6% so với cùng thời điểm năm trước. Ngày 02/4/2022, xuất hiện ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 tại 01 hộ gia đình ở xóm 11, xã Yên Lộc, huyện Kim Sơn. Tổng số gia cầm ốm, chết phải tiêu hủy bắt buộc là 1.447 con vịt. Các cấp, các ngành tập trung hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp vệ sinh khử trùng, tiêu độc khu vực chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng nuôi có đàn gia cầm bị bệnh và các khu lân cận. Đến thời điểm hiện tại ổ dịch đã được kiểm soát, không ghi nhận các trường hợp gia cầm ốm, chết ở khu vực xung quanh ổ dịch và trên địa bàn xã Yên Lộc.

Chi cục Thú y đã cấp 2.950 nghìn liều vắcxin cúm gia cầm; 35 nghìn liều vắcxin viêm da nổi cục; 45 nghìn liều vắcxin dại để phục vụ tiêm vắcxin cho đàn gia súc gia cầm vụ Xuân - Hè năm 2022 và 12 nghìn lít hóa chất sát trùng trên cạn; 2 nghìn lít hóa chất sát trùng dưới nước cho 8 huyện, thành phố để tổ chức phun hóa chất khử trùng tiêu độc môi trường phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi.

1.2. Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào công tác trồng rừng, trồng cây phân tán và chăm sóc rừng ở các địa phương, đồng thời duy trì các biện pháp bảo vệ và phòng chống cháy rừng.

Diện tích trồng rừng mới trong tháng ước đạt 17 ha, bằng 33,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 2,0 nghìn m3, giảm 6,4%; sản lượng củi khai thác ước đạt 1,9 nghìn ste, giảm 28,2%; số cây trồng phân tán ước đạt 87,5 nghìn cây, giảm 24,1%. Tính chung 04 tháng đầu năm 2022, diện tích trồng rừng mới ước đạt 67 ha, giảm 36,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 7,5 nghìn m3, giảm 8,7%; sản lượng củi khai thác ước đạt 8,6 nghìn ste, giảm 14,8%; số cây trồng phân tán ước đạt 358,6 nghìn cây, giảm 2,9%.

1.3. Thuỷ sản

Sản xuất thủy sản trong tháng phát triển bình thường, không có dịch bệnh xảy ra; vùng sản xuất nội đồng người nuôi tiếp tục cải tạo ao đầm và thả giống.

Tại vùng sản xuất nước lợ huyện Kim Sơn, phần lớn các hộ nuôi đã thả giống vụ I năm 2022, các yếu tố môi trường ổn định, con giống khỏe, phát triển tốt. Đến ngày 12/4/2022, Trạm Kiểm ngư Thủy sản đã kiểm soát 46 triệu con tôm thẻ và 12,5 triệu con tôm sú. Diện tích nuôi tôm thẻ trong nhà lưới tiếp tục thu hoạch các con đạt kích cỡ thương phẩm, chăm sóc tốt số tôm còn lại để phục vụ nhu cầu của người dân. Các trại sản xuất ngao hàu giống tiếp tục sản xuất và cung ứng giống ra thị trường.

Sản lượng thủy sản tháng Tư ước đạt 5,4 nghìn tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 4,9 nghìn tấn, tăng 5,4%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 0,5 nghìn tấn, giảm 2,1%. Tính chung lại, sản lượng thủy sản 04 tháng đầu năm 2022 ước đạt 21,2 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 19,0 nghìn tấn, tăng 5,4%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 2,2 nghìn tấn, giảm 1,0%.

          2. Sản xuất công nghiệp

Tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát tốt; các cơ quan chức năng đã đồng hành cùng tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh cá thể; có các giải pháp phục hồi, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp địa phương phục hồi kinh tế - xã hội. Sản xuất công nghiệp tỉnh Ninh Bình trong tháng Tư và 4 tháng đầu năm 2022 có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): Chỉ số IIP tháng Tư toàn tỉnh ước tính tăng 7,13% so với cùng tháng năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 12,83%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,85%; sản xuất và phân phối điện tăng 19,75%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,41%.

So với tháng trước, chỉ số IIP tháng này giảm 4,16%. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 3,67%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,38%; sản xuất và phân phối điện tăng 29,88%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,91%.

Tính chung 04 tháng đầu năm 2022 chỉ số IIP toàn tỉnh tăng 2,49% do tác động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,70%, các ngành còn lại đều ghi nhận mức giảm, cụ thể: khai khoáng giảm 13,12%; sản xuất và phân phối điện giảm 0,29%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,97%.

Giá trị sản xuất: Tính theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh tháng Tư ước đạt 8.258,5 tỷ đồng, tăng 7,3% so với tháng 4/2021. Trong đó: khai khoáng ước đạt 38,5 tỷ đồng, giảm 11,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo 8.091,9 tỷ đồng, tăng 7,3%; sản xuất và phân phối điện 116,6 tỷ đồng, tăng 19,8%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 11,5 tỷ đồng, giảm 2,0%.

Tính chung lại, giá trị sản xuất công nghiệp 04 tháng đầu năm 2022 toàn tỉnh ước đạt 30.525,7 tỷ đồng, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khai khoáng ước đạt 177,7 tỷ đồng, giảm 7,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo 29.951,4 tỷ đồng, tăng 4,4%; sản xuất và phân phối điện 341,3 tỷ đồng, tăng 3,8%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 55,3 tỷ đồng, tăng 0,2%.

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu: Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu ước thực hiện tháng Tư năm 2022 tăng khá so với cùng kỳ như: ngô ngọt đóng hộp 0,1 nghìn tấn, tăng 28,9%; dứa đóng hộp 1,3 triệu tấn, tăng 54,6%; nước dứa tươi 0,2 triệu lít, tăng 6,7%; quần áo các loại 7,9 triệu cái, tăng 33,0%; giày, dép các loại 4,7 triệu đôi, tăng 22,1%; găng tay 0,4 triệu đôi, tăng 12,5%; phân urê 35,9 nghìn tấn, tăng 33,5%; phân lân nung chảy 18,1 nghìn tấn, tăng 5,2%; kính nổi 35,6 nghìn tấn, tăng 8,5%; linh kiện điện tử 10,0 triệu cái, tăng 4,2%; modul camera 44,0 triệu cái, gấp 2,8 lần; tai nghe điện thoại di động 225,0 nghìn cái, gấp 2,6 lần; xe ô tô chở hàng 784 chiếc, tăng 22,9%; đồ chơi hình con vật 2,1 triệu con, gấp 2,2 lần; điện sản xuất 76,3 triệu KWh, tăng 29,3%; điện thương phẩm 221,4 triệu KWh, tăng 4,5%... Bên cạnh đó cũng có một số sản phẩm có mức sản xuất giảm sút như: đá các loại 0,3 triệu m3, giảm 12,3%; thức ăn gia súc 1,6 nghìn tấn, giảm 27,6%; nước khoáng không có ga 0,2 triệu lít, giảm 38,5%; phân NPK 11,0 nghìn tấn, giảm 5,2%; xi măng 0,8 triệu tấn, giảm 5,0%; thép cán các loại 24,0 nghìn tấn, giảm 10,1%; kính máy ảnh 0,1 triệu cái, giảm 51,8%; xe ô tô 5 chỗ ngồi trở lên 3,1 nghìn chiếc, giảm 43,5%; cần gạt nước ô tô 0,6 triệu chiếc, giảm 28,4%; nước máy thương phẩm 2,1 triệu m3, giảm 5,8%...

Tính chung 04 tháng đầu năm 2022, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ là: dứa đóng hộp 4,2 triệu tấn, tăng 61,5%; nước dứa tươi 0,8 triệu lít, tăng 27,5%; hàng thêu 1,0 triệu m2, tăng 57,6%; quần áo các loại 32,7 triệu cái, tăng 20,4%; giày, dép các loại 15,6 triệu đôi, tăng 11,2%; phân lân nung chảy 67,3 nghìn tấn, tăng 62,2%; kính nổi 140,8 nghìn tấn, tăng 7,7%; thép cán các loại 94,5 nghìn tấn, tăng 10,1%; modul camera 144,6 triệu cái, tăng 83,0%; xe ô tô chở hàng 3,6 nghìn chiếc, tăng 46,1%; đồ chơi hình con vật 5,6 triệu con, tăng 21,8%… Tuy nhiên, một số sản phẩm lại có mức sản xuất giảm như: đá các loại 1,0 triệu m3, giảm 12,7%; ngô ngọt đóng hộp 0,5 nghìn tấn, giảm 10,9%; thức ăn gia súc 5,8 nghìn tấn, giảm 38,6%; nước khoáng không có ga 0,8 triệu lít, giảm 32,2%; phân urê 0,2 triệu tấn, giảm 6,1%; phân NPK 30,8 nghìn tấn, giảm 16,8%; linh kiện điện tử 41,7 triệu cái, giảm 7,3%; tai nghe điện thoại di động 1,3 triệu cái, giảm 43,0%; kính máy ảnh 0,4 triệu cái, giảm 51,0%; xe ô tô 5 chỗ ngồi trở lên 15,1 nghìn chiếc, giảm 34,4%; cần gạt nước ô tô 3,5 triệu cái, giảm 17,8%; điện sản xuất 212,0 triệu KWh, giảm 4,5%; nước máy thương phẩm 8,3 triệu m3, giảm 2,5%...

Sản lượng tồn kho một số sản phẩm chủ yếu đến 31/3/2022: giày dép 2,3 triệu đôi; đạm urê 4,6 nghìn tấn; phân hóa học NPK 32,0 nghìn tấn; phân lân nung chảy 11,7 nghìn tấn; kính nổi 79,1 nghìn tấn; xi măng 110,8 nghìn tấn; thanh, que sắt hoặc thép hợp kim được cán nóng 21,9 nghìn tấn; bản vi mạch điện tử 13,9 triệu chiếc; modul camera 13,5 triệu cái; xe ô tô lắp ráp 923 chiếc…

3. Vốn đầu tư phát triển

Tổng số vốn đầu tư phát triển tháng Tư năm 2022 toàn tỉnh ước đạt 2.452,5 tỷ đồng, tăng 0,9% so với cùng tháng năm trước. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước đạt 361,8 tỷ đồng, giảm 7,0%; vốn ngoài Nhà nước đạt 1.904,6 tỷ đồng, tăng 2,3%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 186,1 tỷ đồng, tăng 3,3%.

Một số dự án, công trình có khối lượng vốn đầu tư thực hiện lớn trong tháng Tư năm 2022 là:

- Khu vực đầu tư công: dự án cải tạo nâng cấp đường ĐT.477 đoạn từ ngã ba Gián Khẩu đến hết phạm vi khu 50 ha mở rộng KCN Gián Khẩu ước đạt 10,0 tỷ đồng; dự án xây dựng tuyến đường ĐT.482 kết nối quốc lộ 1A với quốc lộ 10 và kết nối quốc lộ 10 với quốc lộ 12B ước đạt 10,0 tỷ đồng; dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch sinh thái Tràng An và các dự án thành phần ước đạt 9,5 tỷ đồng; dự án xây dựng tuyến đường bộ ven biển qua tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 1) ước đạt 7,0 tỷ đồng; dự án xây dựng Nhà văn hóa trung tâm tỉnh Ninh Bình ước đạt 6,5 tỷ đồng; dự án xây dựng Công viên cây xanh, quảng trường, nhà văn hóa UBND huyện Nho Quan ước đạt 5,5 tỷ đồng; dự án xây dựng Trung tâm Thể dục Thể thao huyện Kim Sơn ước đạt 5,0 tỷ đồng; dự án xây dựng tuyến đường Bái Đính (Ninh Bình) - Ba Sao (Hà Nam), đoạn qua địa phận tỉnh Ninh Bình ước đạt 5,0 tỷ đồng…

- Dự án sử dụng vốn ODA: dự án sửa chữa nâng cao an toàn đập tỉnh Ninh Bình ước đạt 20,0 tỷ đồng; dự án đầu tư xây dựng Âu Kim Đài phục vụ ngăn mặn giữ ngọt và ứng phó với tác động nước biển dâng cho 06 huyện, thành phố khu vực nam tỉnh Ninh Bình ước đạt 10,0 tỷ đồng.

- Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): dự án đầu tư xây dựng Nhà máy HTMT số 2 phục vụ lắp ráp, sản xuất ô tô của Công ty Cổ phần Sản xuất ô tô Hyundai Thành Công Việt Nam ước đạt 31,0 tỷ đồng, dự án xây dựng nhà xưởng phục vụ sản xuất giày của Công ty TNHH Regis ước đạt 29,1 tỷ đồng; dự án mua sắm tài sản, lắp đặt máy móc thiết bị phục vụ sản xuất camera module của Công ty TNHH MCNEX Vina ước đạt 19,2 tỷ đồng; dự án mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất linh kiện tai nghe điện thoại di động của Công ty TNHH Sanico Việt Nam ước đạt 11,6 tỷ đồng…

Một số dự án, công trình khởi công mới trong tháng như: Dự án xây dựng tuyến đường Đông - Tây tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 1) với tổng mức đầu tư 1.486,0 tỷ đồng; dự án xây dựng tuyến đường ĐT.482 kết nối quốc lộ 1A với quốc lộ 10 và kết nối quốc lộ 10 với quốc lộ 12B với tổng mức đầu tư 1.475,0 tỷ đồng; dự án đầu tư xây dựng tuyến đường T21 (đường Lê Duẩn) giai đoạn 1 với tổng mức đầu tư 238 tỷ đồng; dự án Đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Quốc lộ 12B với Quốc lộ 21B, đoạn từ cầu Tu đến cầu Cọ (huyện Yên Mô) với tổng mức đầu tư 128 tỷ đồng; dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu khu cơ quan hành chính tại xã Văn Phong và tuyến đường giao thông, hạ tầng kỹ thuật kết nối trung tâm thị trấn Nho Quan với đường chánh quốc lộ 12B với tổng mức đầu tư 60,0 tỷ đồng; dự án cải tạo mở rộng đường Nguyễn Huệ (đoạn từ đường Hai Bà Trưng đến đường Ngô Gia Tự) phường Ninh Phong thành phố Ninh Bình với tổng mức đầu tư 39,0 tỷ đồng; dự án cải tạo nâng cấp Trụ sở làm việc UBND tỉnh Ninh Bình với tổng mức đầu tư 38,3 tỷ đồng…

Tính chung lại, tổng vốn đầu tư phát triển 4 tháng đầu năm 2022 toàn tỉnh ước đạt 8.748,9 tỷ đồng, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước đạt 1.504,0 tỷ đồng, tăng 4,2%; vốn ngoài Nhà nước đạt 6.788,6 tỷ đồng, tăng 4,3%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 456,3 tỷ đồng, tăng 1,5%.

Trong 04 tháng đầu năm, khối lượng vốn đầu tư thực hiện ở một số công trình, dự án có khối lượng lớn như:

- Khu vực đầu tư công: dự án sửa chữa nâng cao an toàn đập tỉnh Ninh Bình ước đạt 80,0 tỷ đồng; dự án đầu tư xây dựng Âu Kim Đài phục vụ ngăn mặn giữ ngọt và ứng phó với tác động nước biển dâng cho 06 huyện, thành phố khu vực nam tỉnh Ninh Bình ước đạt 65,0 tỷ đồng; dự án xây dựng tuyến đường bộ ven biển qua tỉnh Ninh Bình (giai đoạn 1) ước đạt 48,0 tỷ đồng; dự án cải tạo nâng cấp đường ĐT.477 đoạn từ ngã ba Gián Khẩu đến hết phạm vi khu 50 ha mở rộng KCN Gián Khẩu ước đạt 40,0 tỷ đồng; dự án xây dựng Nhà văn hóa trung tâm tỉnh Ninh Bình ước đạt 33,5 tỷ đồng; dự án xây dựng tuyến đường ĐT.482 kết nối quốc lộ 1A với quốc lộ 10 và kết nối quốc lộ 10 với quốc lộ 12B ước đạt 20,0 tỷ đồng; dự án xây dựng Trung tâm Thể dục Thể thao huyện Kim Sơn ước đạt 18,2 tỷ đồng…

- Khu vực doanh nghiệp Nhà nước: Các dự án xây dựng, sửa chữa công trình điện, mua sắm máy móc, thiết bị của Công ty TNHH MTV Điện lực Ninh Bình ước đạt trên 57,7 tỷ đồng; dự án xây dựng công trình thủy lợi của Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình Thủy lợi Ninh Bình ước đạt trên 1,0 tỷ đồng…

- Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy HTMT số 2 phục vụ lắp ráp, sản xuất ô tô của Công ty Cổ phần Sản xuất ô tô Hyundai Thành Công Việt Nam ước đạt 78,6 tỷ đồng, dự án xây dựng nhà xưởng phục vụ sản xuất giày của Công ty TNHH Regis ước đạt 54,1 tỷ đồng; dự án mua tài sản, lắp đặt máy móc thiết bị phục vụ sản xuất camera module của Công ty TNHH MCNEX Vina ước đạt 62,2 tỷ đồng; dự án xây dựng nhà máy sản xuất ghế ngồi ô tô của Công ty TNHH Deawon Auto Vina ước đạt 40,6 tỷ đồng; dự án mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất linh kiện điện tử của Công ty TNHH Esmo Vina ước đạt 31,4 tỷ đồng; dự án mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất linh kiện tai nghe điện thoại di động của Công ty TNHH Sanico Việt Nam ước đạt 23,2 tỷ đồng.

4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

Nhằm “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, UBND tỉnh đã ban hành văn bản về việc cho phép tổ chức các hoạt động kinh doanh dịch vụ trong điều kiện bình thường mới, theo đó từ ngày 30/3/2022 các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, vui chơi giải trí: karaoke, quán bar, vũ trường, rạp chiếu phim, xông hơi, massage, game online, trò chơi điện tử, bi-a, hàng quán bán tại các địa điểm công cộng được hoạt động trở lại khi xã, phường, thị trấn nơi cơ sở hoạt động kinh doanh dịch vụ có cấp độ dịch từ cấp độ 1 đến cấp độ 3 (theo công bố đánh giá cấp độ dịch của Sở Y tế). Cùng với đó trong tháng Tư có 02 đợt nghỉ lễ dài ngày nên nhu cầu tiêu dùng, vui chơi, giải trí của người dân tăng cao đã giúp cho ngành kinh doanh dịch vụ, vận tải, du lịch trong tháng Tư tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá so với cùng kỳ.

4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Tư năm 2022 ước đạt trên 3.181,8 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng tháng năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa duy trì mức tăng, trong đó một số nhóm hàng có mức tăng khá như: lương thực, thực phẩm ước đạt 931,8 tỷ đồng, tăng 12,8%; vật phẩm văn hóa, giáo dục 52,1 tỷ đồng, tăng 17,6%; gỗ và vật liệu xây dựng 531,0 tỷ đồng, tăng 18,1%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) 157,2 tỷ đồng, tăng 13,1%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) 191,5 tỷ đồng, tăng 14,6%; xăng, dầu các loại 339,2 tỷ đồng, tăng 30,1%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) 73,0 tỷ đồng, tăng 22,5%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm 131,9 tỷ đồng, tăng 31,8%; hàng hóa khác 131,8 tỷ đồng, tăng 13,8%…

Ước tính 04 tháng đầu năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt trên 12.735,5 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2021. Toàn bộ 12/12 nhóm hàng đều có mức tăng, cụ thể: lương thực, thực phẩm ước đạt 3.760,2 tỷ đồng tăng 11,1%; hàng may mặc 897,6 tỷ đồng, tăng 1,7%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình 1.394,6 tỷ đồng, tăng 5,6%; vật phẩm văn hoá, giáo dục 204,9 tỷ đồng, tăng 9,9%; gỗ và vật liệu xây dựng 2.133,0 tỷ đồng, tăng 13,2%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) 631,8 tỷ đồng, tăng 7,0%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) 760,7 tỷ đồng, tăng 7,9%; xăng, dầu các loại 1.309,0 tỷ đồng, tăng 20,0%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) 288,0 tỷ đồng, tăng 13,9%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm 505,7 tỷ đồng, tăng 22,6%; hàng hoá khác 521,4 tỷ đồng, tăng 9,3%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 328,6 tỷ đồng, tăng 11,1%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống trong tháng Tư ước đạt trên 444,7 tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng tháng năm trước; doanh thu du lịch lữ hành 0,3 tỷ đồng, giảm 70,6%; doanh thu một số ngành dịch vụ khác ước đạt 256,3 tỷ đồng, tăng 5,6%.

Trong 04 tháng đầu năm nay, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.676,6 tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ (trong đó: doanh thu lưu trú 111,1 tỷ đồng, giảm 15,1%; doanh thu dịch vụ ăn uống 1.565,5 tỷ đồng, tăng 3,1%); doanh thu du lịch lữ hành 0,6 tỷ đồng, giảm 82,8%; doanh thu một số ngành dịch vụ khác 1.009,1 tỷ đồng, tăng 4,6%.

4.2. Chỉ số giá

Sau 03 tháng đầu năm tăng liên tiếp, chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ chung (CPI) trên thị trường toàn tỉnh trong tháng Tư đã giảm 0,42% so với tháng trước. So với tháng 12/2021 CPI tăng 2,54% và tăng 2,32% so với cùng tháng năm trước. Bình quân 04 tháng đầu năm CPI  tăng 1,80% so với cùng kỳ.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 04 nhóm có chỉ số giảm gồm: nhóm giao thông giảm sâu nhất 0,92% nguyên nhân chính do giá xăng đã giảm 2,43% sau 03 kỳ điều chỉnh giá xăng, dầu trong tháng, kéo theo giá nhóm nhiên liệu giảm 2,3%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,83% (lương thực tăng 0,16%; thực phẩm giảm 1,32%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,09%) chủ yếu do giá nhóm thịt gia súc giảm 4,25% và thịt chế biến giảm 3,37% trước tình hình dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục được kiểm soát tốt trên địa bàn tỉnh dẫn đến nguồn cung thịt lợn dồi dào hơn trước khiến giá thịt lợn đã giảm 5,27%, giá nội tạng động vật giảm 5,08% cùng với giá thịt bò giảm 0,1%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,37% do nhu cầu sử dụng điện của người dân trong tháng giảm nên giá điện sinh hoạt bình quân giảm 1,72%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,02%. Duy nhất nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng nhẹ 0,03%, còn lại có đến 06 nhóm giữ chỉ số ổn định: nhóm đồ uống và thuốc lá, nhóm may mặc, mũ nón và giày dép, nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm bưu chính viễn thông, nhóm giáo dục và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch.

So với tháng 12/2021, có đến 09/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm giao thông tăng mạnh nhất 7,04%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,68%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,54% (lương thực tăng 3,5%; thực phẩm tăng 4,86%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,11%); nhóm giáo dục tăng 0,88%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,62%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,55%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,54%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,4%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15%.  Hai nhóm có chỉ số giá giảm gồm: nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,14%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,25%. 

Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ: Chỉ số giá vàng tháng này giảm 0,23% so với tháng trước, tăng 1,76% so với tháng 12/2021 và tăng 2,12% so với cùng tháng năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Tư năm nay tăng 0,57% so với tháng 3/2022, tăng 0,91% so với tháng 12 năm trước và tăng 1,81% so với cùng tháng năm 2021. Bình quân 04 tháng đầu năm, chỉ số giá vàng tăng 0,66%, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,17% so với cùng kỳ năm 2021.

4.3. Xuất, nhập khẩu

Xuất khẩu: Giá trị xuất khẩu tháng Tư năm 2022 ước đạt 298,3 triệu USD, tăng 47,2% so với cùng tháng năm trước. Tổng giá trị xuất khẩu 4 tháng đầu năm ước đạt 1.051,7 triệu USD, tăng 24,0% so với cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn là: quần áo các loại đạt 130,7 triệu USD; xi măng, clanke đạt 176,0 triệu USD; giày, dép các loại đạt 270,6 triệu USD; camera và linh kiện 332,7 triệu USD; linh kiện điện tử 30,1 triệu USD.

Trong 04 tháng đầu năm nay, một số mặt hàng xuất khẩu đạt khá so với cùng kỳ như: dứa, dưa chuột đóng hộp gần 6,1 nghìn tấn, gấp 2,6 lần; nước dứa cô đặc 552 tấn, gấp 2,3 lần; túi nhựa 769,0 tấn, tăng 42,1%; quần áo các loại 34,3 triệu chiếc, tăng 74,3%; thảm cói 72,3 nghìn m, gấp 5,8 lần; sản phẩm cói khác 649,7 nghìn chiếc, tăng 40,4%; găng tay các loại 1,6 triệu đôi, tăng 24,2%; giày, dép các loại 25,1 triệu đôi, tăng 46,2%; camera và linh kiện 133,7 triệu sản phẩm, tăng 58,3%; phôi nhôm 6,0 nghìn tấn, tăng 41,3%; đồ chơi trẻ em 3,1 nghìn con, tăng 6,8%.... Tuy nhiên một số sản phẩm xuất khẩu lại có mức giảm sút như: hàng thêu ren 18,4 nghìn chiếc, giảm 66,2%; xi măng, clanke 4,1 triệu tấn, giảm 25,2%; kính quang học 392,7 nghìn chiếc, giảm 34,1%.

Nhập khẩu: Giá trị nhập khẩu trong tháng ước đạt gần 272,8 triệu USD, tăng 31,9% so với tháng Tư năm 2021. Tổng giá trị nhập khẩu 4 tháng năm nay ước đạt gần 1.145,3 triệu USD, tăng 26,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó giá trị các mặt hàng chủ yếu là: vải may mặc 49,3 triệu USD; phụ liệu sản xuất giày, dép 157,3 triệu USD; linh kiện điện tử 429,6 triệu USD; linh kiện ô tô các loại 371,1 triệu USD.

4.4. Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách: Khối lượng vận chuyển hành khách trong tháng ước thực hiện gần 1,9 triệu lượt khách, tăng 14,9% và luân chuyển gần 95,8 triệu lượt khách.km, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 04 tháng 2022, vận tải hành khách toàn tỉnh ước thực hiện trên 7,2 triệu lượt khách, tăng 11,3% so với 04 tháng 2021 và luân chuyển trên 378,8 triệu lượt khách.km, tăng 12,2%. Trong đó, chủ yếu là vận tải đường bộ ước đạt 6,4 triệu lượt khách, tăng 12,4% và 375,6 triệu lượt khách.km, tăng 12,2%; vận tải đường thủy nội địa 0,8 triệu lượt khách, tăng 3,5% và 3,2 triệu lượt khách.km, tăng 3,1%.  

Vận tải hàng hóa: Tháng Tư ước thực hiện gần 5,0 triệu tấn vận chuyển, tăng 13,2% và luân chuyển 700,4 triệu tấn.km, tăng 11,8% so với tháng 4/2021. Ước tính 04 tháng năm 2022, khối lượng hàng hoá vận chuyển toàn tỉnh đạt trên 20,2 triệu tấn, tăng 14,0% và luân chuyển trên 2.845,4 triệu tấn.km, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải đường bộ ước thực hiện 9,4 triệu tấn, tăng 11,1% và 485,2 triệu tấn.km, tăng 8,0%; vận tải đường thủy nội địa 10,2 triệu tấn, tăng 16,8% và 2.024,5 triệu tấn.km, tăng 16,6%; vận tải đường biển 0,6 triệu tấn, tăng 13,3% và 335,7 triệu tấn.km, tăng 12,3%.

Doanh thu vận tải: Trong tháng Tư ước đạt trên 650,0 tỷ đồng, tăng 17,5% so với tháng 4/2021. Ước tính trong 04 tháng đầu năm, doanh thu vận tải toàn tỉnh đạt 2.562,4 tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình vận tải: vận tải hành khách ước thực hiện 326,2 tỷ đồng, tăng 12,4%; vận tải hàng hóa 2.132,8 tỷ đồng, tăng 14,5%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải 101,5 tỷ đồng, tăng 19,2%; doanh thu bưu chính, chuyển phát 1,9 tỷ đồng, tăng 36,3%.

4.5. Du lịch

Tình hình dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát tốt trên cả nước, thêm vào đó trong tháng Tư có 02 đợt nghỉ lễ dài ngày nên nhu cầu đi du lịch của người dân tăng cao sau thời gian dài bị ảnh hưởng của dịch Covid-19. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, nghệ thuật được tổ chức như: Lễ kỷ niệm 200 năm Danh xưng Ninh Bình và 30 năm tái lập tỉnh, Lễ hội Hoa Lư 2022 đã tạo điều kiện thu hút khách du lịch đến với Ninh Bình, do đó lượng khách đến các điểm thăm quan du lịch trên địa bàn tỉnh tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính số lượt khách đến các điểm thăm quan, du lịch trên địa bàn tỉnh tháng Tư năm 2022 đạt 357,9 nghìn lượt khách, tăng 54,1% so với cùng tháng năm trước; số lượt khách đến các điểm lưu trú đạt gần 56,5 nghìn lượt, tăng 70,5%; số ngày khách lưu trú ước đạt gần 73,7 nghìn ngày.khách, tăng 48,5%. Doanh thu du lịch ước đạt 208,4 tỷ đồng, tăng 55,2%, trong đó: doanh thu lưu trú 44,8 tỷ đồng, tăng 52,9%; doanh thu ăn uống 75,8 tỷ đồng, tăng 56,3%.

Tính chung lại, 4 tháng năm nay tổng số khách đến các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh ước đạt gần 1.018,1 nghìn lượt khách, tăng 21,4% so với 4 tháng năm 2021, trong đó chủ yếu là khách trong nước. Tổng số khách đến các cơ sở lưu trú ước đạt gần 161,9 nghìn lượt khách, tăng 1,3%; số ngày khách lưu trú ước đạt trên 212,2 nghìn ngày.khách, giảm 1,1%. Doanh thu du lịch ước thực hiện gần 593,7 tỷ đồng, tăng 10,8%, trong đó: doanh thu lưu trú 127,6 tỷ đồng, tăng 7,3%; doanh thu ăn uống 216,9 tỷ đồng, tăng 11,3%.

5. Một số vấn đề xã hội

5.1. Giáo dục, đào tạo

Ngành giáo dục Ninh Bình đã chủ động triển khai các giải pháp đồng bộ, linh hoạt, thích ứng an toàn trong tình hình diễn biến mới của dịch Covid-19. Các trường học tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định về phòng chống dịch, tổ chức vệ sinh môi trường, khử khuẩn trường lớp và đón học sinh đi học trở lại, đối với cấp Tiểu học bắt đầu học trực tiếp từ ngày 04/4/2022, đối với cấp Mầm non bắt đầu từ ngày 12/4/2022.

Bên cạnh đó, đã đạt được một số kết quả như: có 45/68 học sinh dự thi kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia THPT đạt giải (chiếm 66,2%), tăng 12 giải so với năm học trước, trong đó có 01 giải Nhất môn Địa lý, 03 giải Nhì, 19 giải Ba và 22 giải Khuyến khích; có 02 dự án đạt giải Ba tại Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia năm học 2021-2022 dành cho học sinh trung học; dự án “Thanh Bì Khang giải pháp đột phá từ thiên nhiên cho người viêm da cơ địa” của học sinh trường THPT Ninh Bình – Bạc Liêu đạt top 10 tại vòng Chung kết cuộc thi học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp năm 2021; đạt 03 Huy chương Bạc môn Cờ vua tại Đại hội TDTT tỉnh Ninh Bình lần thứ VII….

Ngoài ra, ngành Giáo dục đã tổ chức thành công các kỳ thi như: thi thử tốt nghiệp cho học sinh, học viên lớp 12 năm học 2021-2022 theo quy chế thi tốt nghiệp THPT hiện hành; thi chọn học sinh giỏi lớp 12 THPT cấp tỉnh theo tổ hợp môn; tổ chức giao lưu “Tiếng Anh Tiểu học” cấp tỉnh năm học 2021-2022, kết quả có 39/64 học sinh lớp 5 tham dự đạt giải (gồm 03 giải Nhất, 07 giải Nhì, 11 giải Ba và 18 giải Khuyến khích); cuộc thi Olympic “Tài năng Tiếng Anh” dành cho học sinh trung học, đã trao giải cho 56 thí sinh gồm: 02 giải Nhất, 08 giải Nhì, 14 giải Ba, 32 giải Khuyến khích; cuộc thi Olympic “Chinh phục IELTS” dành cho học sinh trung học, kết quả có 61 thí sinh dự thi đạt giải, trong đó có 02 giải Nhất, 08 giải Nhì, 14 giải Ba và 37 giải Khuyến khích.

 5.2. Hoạt động Y tế [1]

Trong tháng, ngành Y tế tiếp tục triển khai Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính Phủ về việc ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”. Sẵn sàng các phương án, kịch bản ứng phó linh hoạt, kịp thời, chủ động kiểm soát dịch bệnh trong mọi tình huống; tích cực triển khai tiêm chủng vắc xin Covid-19 mũi bổ sung và mũi tăng cường, bên cạnh đó chuẩn bị các điều kiện để tiêm phòng cho trẻ em từ 5-11 tuổi.

Tình hình dịch Covid -19 trên địa bàn tỉnh hiện đang có chiều hướng giảm dần, tính cộng dồn từ khi có dịch đến 15h ngày 20/4/2022: số ca bệnh xác định 101.265, trong đó đã điều trị khỏi và xuất viện 98.962 ca; đang điều trị 2.169 ca; chuyển Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương 29 ca; tử vong 105 ca; tổng số trường hợp được cách ly và giám sát là 323.798 trường hợp, trong đó: cách ly tại cơ sở y tế là 27.556 người; cách ly y tế tại cơ sở cách ly tập trung là 29.141 người; cách ly y tế tại nhà và nơi lưu trú là 267.091 người; tổng số mẫu đã lấy 753.243 mẫu,  số ca đã lấy mẫu xét nghiệm 600.522 ca. Triển khai tiêm phòng vắc xin Covid 19 cho đối tượng trên 18 tuổi tối thiểu 01 mũi: 663.824 người, tiêm đủ 2 mũi: 658.725 người, tiêm mũi 3: 648.560 người, tiêm mũi nhắc lại cho đối tượng đã tiêm mũi bổ sung: 83.106 người; tiêm cho nhóm đối tượng từ 12 đến dưới 18 tuổi, mũi 1: 81.998 người; tiêm đủ 02 mũi: 78.860 người.

Trong tháng Ba, có 04 ca ngộ độc thực phẩm lẻ tẻ, không có tử vong do ngộ độc thực phẩm; 289 ca mắc tiêu chảy; 644 ca mắc cúm; 01 ca mắc thủy đậu…

Công tác khám chữa bệnh luôn đ­ược quan tâm thực hiện: Tại các cơ sở y tế trên địa bàn toàn tỉnh đã khám bệnh cho 88,4 nghìn lượt bệnh nhân; điều trị nội trú cho 13,6 nghìn l­ượt bệnh nhân; khám phụ khoa cho 2,7 nghìn lượt; điều trị phụ khoa cho 1,4 nghìn lượt; khám thai cho 2,9 nghìn lượt; đặt dụng cụ tử cung 116 ca; triệt sản 04 ca.

Công tác phòng chống HIV/AIDS: trong tháng Ba phát hiện mới 05 người nhiễm HIV, không có trường hợp tử vong do AIDS.

5.3. Văn hoá thông tin

Hoạt động văn hóa, thông tin trong tháng diễn sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, thiết thực chào mừng các sự kiện trọng đại của đất nước và địa phương: kỷ niệm 200 năm Danh xưng Ninh Bình (1822-2022) và 30 năm tái lập tỉnh (01/4/1992-01/4/2022); Lễ hội Hoa Lư năm 2022; kỷ niệm 47 năm Ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2022) và Ngày Quốc tế lao động 1/5. Hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú như: thay mới nội dung các cụm pa nô, băng rôn, khẩu hiệu trên các trục đường chính, các trung tâm đô thị và nơi tập trung đông dân cư, tổ chức biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thi đấu thể thao, triển lãm ảnh nghệ thuật…

         Trong tháng, Nhà hát Chèo đã tổ chức 02 buổi biểu diễn nghệ thuật và chương trình ca múa nhạc phục vụ nhiệm vụ chính trị và phục vụ Nhân dân. Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng đã thực hiện chiếu phim lưu động phục vụ Nhân dân các xã vùng sâu, vùng xa của huyện Nho Quan và các xã vùng ven biển huyện Kim Sơn. Trung tâm Văn hóa tỉnh đã tổ chức thành công đêm Khai mạc, đêm trao giải và công diễn Liên hoan Nghệ thuật quần chúng tỉnh Ninh Bình với tổng 09 đoàn tuyển và hơn 400 diễn viên tham gia. Bên cạnh đó, tổ chức nhiều hoạt động giao lưu văn nghệ, thể thao trong dịp Lễ hội Hoa Lư năm 2022 và chào mừng Lễ kỷ niệm 200 năm Danh xưng Ninh Bình.

5.4. Thể dục thể thao

Trong tháng, tiếp tục duy trì công tác đào tạo, huấn luyện nâng cao thành tích cho vận động viên thành tích cao của tỉnh và cử các vận động viên tham gia thi đấu các giải thể thao trong nước, đạt được một số kết quả như: giải Vô địch Bowling các đội mạnh quốc gia năm 2022 tại thành phố Hà Nội đạt 07 HCV, 03 HCB 01 HCĐ; giải Vô địch quốc gia Marathon và cự ly dài Báo Tiền Phong lần thứ 63 năm 2022 tại Bà Rịa - Vũng Tàu đạt 01 HCĐ; giải Vô địch Boxing các đội mạnh toàn quốc năm 2022 tại Tiền Giang đạt 02 HCV; giải Vô địch Cờ vua đồng đội quốc gia năm 2022 tại Kiên Giang đạt 01 HCĐ; giải Vô địch Karate miền Bắc lần thứ II năm 2022 tại Hải Dương đạt 09 HCV, 01 HCĐ, xếp hạng 3 toàn đoàn; giải Vô địch các câu lạc bộ Vật dân tộc quốc gia năm 2022 tại Ninh Bình đạt 03 HCV, 02 HCB, 02 HCĐ, xếp hạng Nhì toàn đoàn.

Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh phối hợp với Tổng Cục Thể dục Thể thao, Liên đoàn Vật Việt Nam tổ chức thành công giải Vô địch các câu lạc bộ Vật dân tộc quốc gia năm 2022; phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan chuẩn bị các điều kiện tốt nhất cho việc đăng cai tổ chức môn thi đấu Karate tại SEA Games 31 được tổ chức ở Việt Nam.

Thể thao quần chúng: tiếp tục tổ chức thi đấu các môn thể thao trong khuôn khổ Đại hội TDTT tỉnh Ninh Bình lần thứ VII; một số giải thể thao quần chúng được tổ chức thu hút đông đảo các tầng lớp Nhân dân tham gia như: Giải chạy "Cúc Phương Jungle Paths năm 2022"; giải Cầu lông, Bóng bàn, Quần vợt cán bộ, công chức, viên chức thuộc Công đoàn viên chức Khối Cơ quan tỉnh.

5.5. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Trong tháng, lực lượng công an trong tỉnh đã chủ động nắm và kiểm soát tốt tình hình, không để xảy ra các tình huống đột xuất, bất ngờ. Đặc biệt đã huy động tối đa lực lượng bảo đảm an toàn, an ninh trật tự tại Lễ hội Hoa Lư năm 2022 và Lễ kỷ niệm 200 năm Danh xưng Ninh Bình, 30 năm tái lập tỉnh.

Tính từ 15/3/2022-14/4/2022, toàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 05 ng­­ười và 09 người bị thương; xảy ra 29 vụ phạm pháp hình sự; phát hiện 23 vụ buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma tuý với 25 đối tượng./.



[1] Số liệu Y tế là số liệu phát sinh trong tháng 3 năm 2022.





CÁC BÀI KHÁC


243793

17
52
243793