Hôm nay, thứ 5 20/06/2024
Tìm kiếm:  

THÔNG TIN THỐNG KÊ THÁNG


 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình năm 2022

Năm 2022 là năm thứ hai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức: Tình hình thế giới, chiến tranh xung đột giữa Nga - Ukraina kéo dài; dịch Covid-19 vẫn tác động tiêu cực tới mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là trong những tháng đầu năm. Trước biến động của tình hình thế giới, nước ta cũng chịu áp lực rất lớn từ lạm phát, khan hiếm hàng hoá và giá cả tăng cao; hoạt động kinh doanh trong một số ngành, lĩnh vực còn khó khăn; thiếu lao động cục bộ, nhất là lao động chất lượng cao trong một số ngành, lĩnh vực. Bên cạnh đó thiên tai, dịch bệnh còn diễn biến phức tạp.

 Với sự linh hoạt trong điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân trong triển khai tiêm vắc-xin, phòng, chống hiệu quả dịch Covid-19 và các dịch bệnh khác là nền tảng quan trọng để nền kinh tế từng bước được phục hồi; các hoạt động xã hội đã bình thường trở lại. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo.

   Năm 2022, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh tiếp tục nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt các giải pháp mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII đề ra. Triển khai hiệu quả công tác phòng, chống dịch Covid-19; Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, xác định đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, trong đó tập trung duy trì sản xuất, kinh doanh, nâng cao tăng trưởng kinh tế, đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mục tiêu 15/15 chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra. Dưới đây là một số kết quả đạt được:

1. Các chỉ tiêu tổng hợp[1]

1.1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm xã hội (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh năm 2022 (theo giá so sánh 2010) ước tính đạt 49.638,8 tỷ đồng, tăng 8,62 % so với năm 2021. Trong đó: giá trị tăng thêm khu vực I (nông, lâm nghiệp và thủy sản) ước đạt 4.526,2 tỷ đồng, tăng 3,04%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế; khu vực II (công nghiệp - xây dựng) ước đạt 18.421,3 tỷ đồng, tăng 5,67%, đóng góp 2,16 điểm phần trăm (riêng công nghiệp ước đạt 14.169,0 tỷ đồng, tăng 5,96%, đóng góp 1,74 điểm phần trăm); khu vực III (dịch vụ) ước đạt 17.950,5 tỷ đồng, tăng 15,45%, đóng góp 5,26 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 8.740,8 tỷ đồng, tăng 4,99%, đóng góp 0,91 điểm phần trăm.

 1.2. Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ. Tiềm năng thế mạnh của tỉnh tiếp tục được khai thác một cách có hiệu quả. Những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ được áp dụng rộng rãi vào sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Ước tính tổng sản phẩm xã hội (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh năm 2022 (theo giá hiện hành) đạt trên 81.775,5 tỷ đồng. Chia ra: khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đạt 7.240,5 tỷ đồng, chiếm 8,85%; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 30.915,9 tỷ đồng, chiếm 37,81%, riêng công nghiệp đạt 24.280,1 tỷ đồng, chiếm 29,69%; khu vực dịch vụ đạt 30.213,5 tỷ đồng, chiếm 36,95%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 13.405,6 tỷ đồng, chiếm 16,39%.

 

Tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2022

 
               
 

 

 

 

 

Tỷ đồng

 

 

 

Theo giá hiện hành

 

Theo giá so sánh 2010

 

   

Tổng

 

Tổng

Tốc độ phát triển

 

   

số

cấu

 

số

so với

 

   

 

 (%)

 

 

năm 2021 (%)

 

               

 

TỔNG SỐ

81.775,5

100,00

 

49.638,8

108,62

 

 

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

7.240,5

8,85

 

4.526,2

103,04

 

 

Công nghiệp và xây dựng

30.915,9

37,81

 

18.421,3

105,67

 

 

 

Công nghiệp

24.280,1

29,69

 

14.169,0

105,96

 

 

 

Xây dựng

6.635,8

8,11

 

4.060,3

102,77

 

 

Dịch vụ

30.213,5

36,95

 

17.950,5

115,45

 

 

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

13.405,6

16,39

 

8.740,8

104,99

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                     

2. Thu, chi ngân sách nhà nước trên địa bàn

                   Nền kinh tế của tỉnh từng bước phục hồi, hoạt động sản xuất, kinh doanh  của doanh nghiệp và các cơ sở tăng trưởng trở lại đã tác động tích cực đến kết quả thu, chi ngân sách Nhà nước trong năm 2022.

Năm 2022 là năm đầu tiên tỉnh Ninh Bình thực hiện tự chủ về ngân sách theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XXII đã đề ra và cũng là năm đầu tiên tỉnh Ninh Bình có tổng thu ngân sách Nhà nước lớn nhất từ trước tới nay. Tổng thu ngân sách năm 2022 ước đạt 23.300,0 tỷ đồng, vượt 16,4% dự toán năm và tăng 11,3% so với năm trước. Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực về cơ cấu thu. Thu nội địa (không bao gồm tiền sử dụng đất, xổ số kiến thiết) đạt 15.470 tỷ đồng (chiếm 66,4% tổng thu, tỷ lệ này của năm 2021 là 63,4%) vượt 17,3% dự toán và tăng 16,4%; trong đó thu từ doanh nghiệp và cá nhân sản xuất kinh doanh trong nước đạt 13.842 tỷ đồng (chiếm 59,4% tổng thu, năm 2021 là 54,2%), vượt 18,8% dự toán và tăng 22,0%; thu tiền sử dụng đất ước đạt 2.680 tỷ đồng (chiếm 11,5% tổng thu, năm 2021 chiếm 18,5%), đạt 100% dự toán, giảm 30,8%; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết ước đạt 50 tỷ đồng, vượt 2,0% dự toán, giảm 0,9%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu  5.100 tỷ đồng (chiếm 21,9% tổng thu, năm 2021 chiếm 17,8%), vượt 24,2% dự toán, tăng 36,7% so với năm 2021.

Chi ngân sách đã cơ bản đáp ứng nhiệm vụ của các cấp, các ngành và các đơn vị, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách, chế độ của Trung ương và của tỉnh ban hành, tăng cường thực hiện các chính sách an sinh xã hội và đảm bảo nguồn ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, đột xuất phát sinh trong năm. Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện cả năm là 18.551,3 tỷ đồng, vượt 13,8% dự toán và tăng 17,5% so với thực hiện năm 2021. Trong đó: chi đầu tư phát triển 6.497,1 tỷ đồng, vượt 16,5% dự toán, giảm 23,5%; chi thường xuyên 8.714,7 tỷ đồng, vượt 2,5% dự toán và tăng 19,9%. Trong chi thường xuyên: chi quốc phòng an ninh ước thực hiện 333,3 tỷ đồng, giảm 8,9%; chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề 3.463,3 tỷ đồng, tăng 26,0%; chi sự nghiệp y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình 757,9 tỷ đồng, giảm 5,1%; chi sự nghiệp kinh tế 1.019,3 tỷ đồng, tăng 22,4%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể 1.667,9 tỷ đồng, tăng 9,3%; chi sự nghiệp đảm bảo xã hội 629,0 tỷ đồng, tăng 27,0%.   

3. Chỉ số giá

          Giá thịt lợn, thịt gia cầm, giá rau tươi, giá xăng, dầu giảm và nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt của người dân giảm là những nguyên nhân chủ yếu làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2022 giảm 0,29% so với tháng trước. So với tháng 12/2021, CPI tháng này tăng 4,95%. Bình quân cả năm 2022 CPI tăng 3,49% so với năm 2021.

          So với tháng trước, trong mức giảm 0,29% của CPI tháng Mười hai chỉ có 02 trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: nhóm giao thông giảm sâu nhất 1,82% do tác động của 3 kỳ điều chỉnh giảm giá liên tiếp trong tháng giá xăng đã giảm 4,74%, giá dầu diezen giảm 10,64% kéo theo giá nhóm nhiên liệu giảm 4,67%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,84%, trong đó: lương thực tăng 0,21%; thực phẩm giảm 1,28% chủ yếu do giá nhóm rau tươi, khô và chế biến giảm 6,98% khi nhiều loại rau tươi cùng giảm giá do việc thu hoạch rau vụ Đông nên nguồn cung khá dồi dào (bắp cải giảm 10,2%, su hào giảm 9,49%; cà chua giảm 30,29%; rau dạng quả, củ giảm 4,23%; rau tươi khác giảm 7,97%...) cùng với giá thịt lợn giảm 1,91% do các hộ chăn nuôi mở rộng quy mô, tập trung tái đàn khi dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát tốt trên địa bàn tỉnh nên nguồn cung thịt lợn tăng, nhóm thịt gia cầm giảm 1,82% (giá thịt gà giảm 1,8%; giá thịt gia cầm khác giảm 1,88%), nhóm thịt chế biến giảm 1,2%; nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,06%. Ba nhóm có chỉ số giá tăng: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,82%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,41%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng nhẹ 0,01%. Sáu nhóm còn lại có chỉ số giữ ổn định là: nhóm đồ uống và thuốc lá, nhóm may mặc, mũ nón và giày dép, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình, nhóm bưu chính viễn thông, nhóm giáo dục và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch.

          CPI bình quân năm 2022 tăng 3,49% so với năm trước. Có đến 09/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, gồm: nhóm giao thông tăng mạnh nhất với mức tăng 10,44%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 5,28%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,01% (lương thực tăng 2,98%; thực phẩm tăng 4,49%; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,14%); nhóm giáo dục tăng 2,06%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,88%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,57%;  nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,13%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,05%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,42%. Hai nhóm còn lại có chỉ số giá giảm: nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,81%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,29%.

          CPI bình quân năm nay tăng so với năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

           - Do ảnh hưởng của cuộc xung đột chính trị giữa Nga và Ucraina, nguồn cung nhiên liệu và chất đốt của thế giới giảm mạnh dẫn đến giá xăng, dầu, giá gas, giá dầu hỏa trong nước buộc phải điều chỉnh tăng theo đà tăng giá của thế giới: giá xăng tăng 27,56%; giá dầu diezel tăng 53,36% đẩy giá nhiên liệu tăng 27,08%; giá gas tăng 8,19%; giá dầu hỏa tăng 59,82%.

           - Giá vật liệu ngành xây dựng như: xi măng, sắt, thép tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào dẫn đến giá nhà ở cho thuê tăng 8,4%, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 4,78%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 6,31%.

- Giá nhóm rau tươi, khô và chế biến tăng khá cao 20,75% khi một số loại rau tươi nguồn cung giảm nên giá tăng cao: bắp cải tăng 41,05%; su hào tăng 50,98%; cà chua tăng 52,64%; rau muống tăng 33,57%; rau dạng quả, củ tăng 11,24%; rau tươi khác tăng 29,93%...

- Giá thịt gia cầm tăng 7,42% do giá thức ăn chăn nuôi tăng buộc các hộ chăn nuôi phải tăng giá bán để bù đắp chi phí (thịt gà tăng 6,48%; thịt gia cầm khác tăng 9,56%).

          Bên cạnh đó, có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng năm 2022 là:

          - Giá thịt gia súc giảm 5,23%, thịt chế biến giảm 1,14% do dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát tốt, các địa phương tiếp tục thực hiện việc tái đàn lợn nên nguồn cung thịt lợn hơi trên địa bàn tỉnh tăng so với cùng kỳ làm cho giá thịt lợn hơi giảm 7,33%, nội tạng động vật giảm 6,89%.

          - Giá gạo giảm 3,26% (gạo tẻ thường giảm 4,01%; gạo tẻ ngon giảm  3,14%) do xuất khẩu gạo gặp khó khăn.

          - Giá điện sinh hoạt bình quân giảm 1,09% do nhu cầu sử dụng điện của người dân giảm.

          Chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá vàng tháng này tăng 3,14% so với tháng trước và giảm 0,41% với tháng 12/2021. Chỉ số giá bán lẻ đô la Mỹ giảm 1,32% so với tháng 11/2022, tăng 5,21% so với cùng tháng năm trước. Bình quân năm 2022, chỉ số giá vàng giảm 0,42%, chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 3,41% so với năm 2021.

4. Vốn đầu tư và phát triển

Ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã quyết liệt chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/2022/NQ-CP ngày 08/01/2022 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022, trong đó xác định đầu tư công là động lực góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế; phát triển cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, tỉnh cũng thường xuyên quan tâm hỗ trợ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện triển khai các dự án trên địa bàn tỉnh. Trong năm 2022, nhiều dự án có vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh được khởi công, hoàn thành và đưa vào sử dụng.

Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn toàn tỉnh năm 2022 ước đạt 29.949,7 tỷ đồng, vượt 10,3% kế hoạch năm và tăng 10,1% so với năm 2021. Chia ra: vốn Nhà nước đạt 5.531,8 tỷ đồng, tăng 1,2%; vốn ngoài Nhà nước đạt 21.109,7 tỷ đồng, tăng 4,7%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 3.308,2 tỷ đồng, gấp 2,1 lần.

Một số công trình, dự án chủ yếu trong năm 2022 có khối lượng vốn đầu tư thực hiện lớn như:

- Khu vực đầu tư công: Dự án xây dựng tuyến đường bộ ven biển qua tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 1) ước đạt 223,4 tỷ đồng; dự án xây dựng tuyến đường ĐT.482 kết nối quốc lộ 1A với quốc lộ 10 ước đạt 191,0 tỷ đồng; dự án cải tạo nâng cấp đường ĐT.477 đoạn từ ngã ba Gián Khẩu đến hết phạm vi khu 50 ha mở rộng KCN Gián Khẩu ước đạt 115,0 tỷ đồng; dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch sinh thái Tràng An và các dự án thành phần ước đạt 85,1 tỷ đồng; dự án đầu tư xây dựng tuyến đường T21 (đường Lê Duẩn) ước đạt 74,8 tỷ đồng; dự án xây dựng tuyến đường Đông – Tây tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 1) ước đạt 72,0 tỷ đồng; dự án xây dựng Công viên cây xanh, quảng trường, nhà văn hóa trung tâm huyện Nho Quan ước đạt 68,0 tỷ đồng; dự án xây dựng đường vành đai thị trấn Yên Thịnh, huyện Yên Mô ước đạt 60,0 tỷ đồng; dự án nâng cấp tuyến đê hữu Hoàng Long và sông Đáy kết hợp giao thông đoạn từ Bái Đính đi Kim Sơn ước đạt 52,0 tỷ đồng; dự án xây dựng khu Trung tâm Thể dục Thể thao huyện Kim Sơn ước đạt 47,4 tỷ đồng; dự án xây dựng Nhà văn hóa Trung tâm tỉnh Ninh Bình ước đạt 47,3 tỷ đồng; dự án cải tạo, nâng cấp kênh điều hòa khu công nghiệp Khánh Phú, huyện Yên Khánh ước đạt 42,5 tỷ đồng; dự án xây dựng khu Trung tâm văn hóa Cộng đồng huyện Kim Sơn ước đạt 42,1 tỷ đồng…

- Dự án sử dụng vốn ODA: Dự án sửa chữa nâng cao an toàn đập tỉnh Ninh Bình ước đạt 133,6 tỷ đồng; dự án đầu tư xây dựng Âu Kim Đài phục vụ ngăn mặn giữ ngọt và ứng phó với tác động nước biển dâng cho 06 huyện, thành phố khu vực phía Nam tỉnh Ninh Bình ước đạt 54,8 tỷ đồng; dự án tăng cường đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai tỉnh Ninh Bình ước đạt 4,8 tỷ đồng.

- Dự án vốn Trái phiếu Chính phủ: Dự án thành phần đầu tư xây dựng Đoạn Cao Bồ - Mai Sơn thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc Nam phía đông giai đoạn 2017-2020 ước đạt 40,0 tỷ đồng.

- Khu vực doanh nghiệp Nhà nước: Dự án sửa chữa lớn, nâng cấp tài sản cố định của Công ty TNHH MTV Đạm Ninh Bình ước đạt 244,3 tỷ đồng; các dự án xây dựng, sửa chữa, cải tạo công trình điện, mua sắm máy móc, thiết bị của Công ty TNHH MTV Điện lực Ninh Bình ước đạt trên 132,7 tỷ đồng; dự án mua sắm máy móc, sửa chữa lớn tài sản cố định của Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Tam Điệp ước đạt gần 14,9 tỷ đồng; dự án xây dựng các công trình thủy lợi của Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình Thủy lợi Ninh Bình ước đạt 12,0 tỷ đồng…

- Khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước: Dự án xây dựng nhà máy nước sạch Hoàng Long và mạng lưới đường ống cung cấp nước của Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Hoàng Dân ước đạt gần 239,3 tỷ đồng; dự án xây dựng nhà xưởng của Công ty Cổ phần Dịch vụ và Hạ tầng ô tô Thành Công ước đạt 222,1 tỷ đồng; dự án xây dựng đường cấp nước sạch dự phòng từ nhà máy nước Hoàng Long về Thành phố Ninh Bình của Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Ninh Bình ước đạt trên 148,6 tỷ đồng; dự án sửa chữa lớn, nâng cấp hệ thống máy móc dây chuyền sản xuất xi măng của Công ty Cổ phần Vissai Ninh Bình ước đạt 147,5 tỷ đồng; dự án xây dựng Chợ đầu mối Tổng hợp thành phố Ninh Bình ước đạt 76,8 tỷ đồng; dự án xây dựng khu Trung tâm liên hợp du lịch và thể thao sân Golf hồ Yên Thắng của Công ty Cổ phần đầu tư PV- Inconess ước đạt 65,0 tỷ đồng; dự án xây dựng Trung tâm tổ chức sự kiện và nhà hàng của Công ty TNHH Vận tải và Thương mại Đức Hùng ước đạt 55,8 tỷ đồng…

- Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy HTMV số 2 phục vụ lắp ráp, sản xuất ô tô của Công ty Cổ phần Sản xuất ô tô Hyundai Thành Công Việt Nam ước đạt 1.380,4 tỷ đồng; dự án mua sắm máy móc phục vụ sản xuất giày của Công ty TNHH Giày Athena Việt Nam ước đạt 310,0 tỷ đồng; dự án xây dựng nhà xưởng sản xuất, mua sắm tài sản, lắp đặt máy móc thiết bị phục vụ sản xuất camera dule của Công ty TNHH MCNEX Vina ước đạt 273,8 tỷ đồng; dự án xây dựng nhà máy sản xuất đồ chơi trẻ em của Công ty TNHH Dream Plastic Kim Sơn ước đạt 262,3 tỷ đồng; dự án xây dựng nhà máy sản xuất ăng ten ô tô của Công ty TNHH Winnercom Vina ước đạt 95,0 tỷ đồng; dự án xây dựng nhà máy sản xuất ghế ngồi ô tô của Công ty TNHH Deawon Auto Vina ước đạt 60,6 tỷ đồng; dự án xây dựng nhà xưởng phục vụ sản xuất giày của Công ty TNHH Regis ước đạt 53,4 tỷ đồng …

5. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp  

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2022 cho thấy: có 28,8% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV năm nay tốt hơn quý trước; 37,0% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 34,2% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý I/2023 so với quý IV năm nay, có 32,9% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 30,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 37,0% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý IV năm nay, có 48,0% số doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường trong nước thấp là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 43,8% số doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 42,5% số doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 42,5% số doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước cao; 37,0% số doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 21,9% số doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên, nhiên vật liệu; 19,2% số doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 17,8% số doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao là yếu tố quan trọng...

6. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới

Năm 2022, thời tiết diễn biến thất thường, giá cả nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng cao, mặc dù vậy các cấp, các ngành trong tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp, đưa sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt nhiều kết quả quan trọng: sản lượng lương thực vượt kế hoạch đề ra, công tác tái đàn vật nuôi được thực hiện có hiệu quả, dịch bệnh cơ bản được khống chế; công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng tiếp tục được quan tâm, sản xuất thủy sản phát triển tốt, không có dịch bệnh xảy ra.

6.1. Nông nghiệp

6.1.1. Trồng trọt

a) Cây hàng năm: tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm năm 2022 ước đạt 92,6 nghìn ha, giảm 1,4% (- 1,3 nghìn ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích cây lương thực có hạt đạt 75,5 nghìn ha, giảm 1,4% (- 1,1 nghìn ha). Diện tích cây hàng năm giảm chủ yếu do việc xây dựng các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp, khu dân cư, làm đường giao thông,… cũng như việc chuyển đổi diện tích một số cây trồng kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản.

 Cây lúa: diện tích lúa cả năm 2022 đạt 71,2 nghìn ha, giảm 0,7% (- 0,5 nghìn ha); năng suất lúa đạt 61,0 tạ/hạ, giảm 0,5% (- 0,31 tạ/ha); sản lượng lúa ước đạt 439,5 nghìn tấn (trong đó có 5,1 nghìn tấn lúa tái sinh), giảm 1,1% (- 5,0 nghìn tấn) và đạt 102,3% kế hoạch năm 2022.

Lúa Đông Xuân: diện tích gieo cấy lúa vụ Đông Xuân năm 2022 đạt 39,8 nghìn ha, giảm 0,4% (- 0,1 nghìn ha) so với năm 2021; năng suất lúa Đông Xuân năm 2022 bình quân toàn tỉnh đạt 66,6 tạ/ha, giảm 0,3% (- 0,2 tạ/ha); sản lượng đạt 264,5 nghìn tấn, giảm 0,9% (- 2,3 nghìn tấn).

Lúa Mùa: diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa năm 2022 đạt 31,4 nghìn ha, giảm 1,2% (- 0,4 nghìn ha) so với cùng vụ năm trước; năng suất lúa vụ Mùa năm 2022 đạt 54,07 tạ/ha, giảm 0,6% (- 0,33 tạ/ha) so với năm 2021; sản lượng đạt 170,0 nghìn tấn, giảm 1,8% (- 3,2 nghìn tấn).

 Cây ngô: diện tích cây ngô đạt 4,3 nghìn ha, giảm 11,4% (- 0,5 nghìn ha); năng suất đạt 38,3 tạ/ha, tăng 1,9% (+0,7 tạ/ha); sản lượng đạt 16,3 nghìn tấn, giảm 9,6% (- 1,7 nghìn tấn).

Tính chung lại: tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2022 ước đạt 455,9 nghìn tấn, giảm 1,4% (- 6,7 nghìn tấn) so với năm 2021 và đạt 101,6% kế hoạch năm 2022.

Cây công nghiệp hàng năm: diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm đạt 3,3 nghìn ha, giảm 19,2% (- 0,8 nghìn ha) so với năm 2021, trong đó cây lạc đạt 2,4 nghìn ha, giảm 7,9% (- 0,2 nghìn ha); cây đậu tương đạt 0,3 nghìn ha, giảm 62,4% (- 0,5 nghìn ha). Sản lượng lạc đạt 7,2 nghìn tấn, giảm 4,1% (- 0,3 nghìn tấn). Sản lượng đậu tương đạt trên 0,4 nghìn tấn, giảm 31,0% (- 0,2 nghìn tấn).

Cây rau, đậu: diện tích cây rau, đậu năm 2022 đạt 9,8 nghìn ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cây rau đạt 9,4 nghìn ha, giảm 0,2%, cây đậu đạt 0,4 nghìn ha, tăng 8,8%; sản lượng rau ước đạt 187,2 nghìn tấn, tăng 0,4%; sản lượng đậu ước đạt 0,5 nghìn tấn, tăng 9,9%.

b) Cây lâu năm: diện tích cây lâu năm năm 2022 ước đạt 7,5 nghìn ha, giảm 0,2% (- 15,4 ha) so với năm trước, trong đó diện tích cây ăn quả ước đạt 6,8 nghìn ha, giảm 0,1% (- 5,4 ha). Một số loại cây ăn quả có diện tích hiện có đạt khá như: cấy dứa đạt 3,4 nghìn ha; cây chuối đạt 1,1 nghìn ha; cây na 0,5 nghìn ha;... Diện tích cây lâu năm giảm tập trung chủ yếu trên địa bàn thành phố Tam Điệp do có diện tích thu hồi để thực hiện Dự án đường cao tốc Bắc - Nam đoạn qua khu vực thành phố.

Tổng sản lượng cây ăn quả năm 2022 sơ bộ đạt 111,0 nghìn tấn, tăng 9,2% (+ 9,3 nghìn tấn) so với năm trước, trong đó sản lượng dứa ước đạt 68,5 nghìn tấn, tăng 13,8% (+ 8,3 nghìn tấn); sản lượng chuối đạt 22,1 nghìn tấn, tăng 0,3% (+ 0,1 nghìn tấn); sản lượng na đạt 3,5 nghìn tấn, tăng 1,8% (+ 0,1 nghìn tấn); sản lượng bưởi đạt 4,4 nghìn tấn, tăng 10,2% (+ 0,4 nghìn tấn);...

6.1.2. Chăn nuôi

Do tập trung quyết liệt thực hiện các biện pháp khống chế dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm; tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông, vận chuyển, tái đàn sản xuất các con nuôi; khắc phục khó khăn về giá thức ăn gia súc tăng cao bằng chuyển đổi chăn nuôi hợp lý, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nên trong năm 2022, ngành chăn nuôi trong tỉnh đã từng bước được phục hồi và phát triển.

Tính đến thời điểm báo cáo, đàn trâu ước đạt 12,9 nghìn con, tăng 0,7% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò ước đạt 35,1 nghìn con, tăng 2,4%; đàn lợn ước đạt 277,2 nghìn con, tăng 4,1%; đàn gia cầm ước đạt 6,6 triệu con, tăng 2,3%.

Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2022 ước đạt 62,8 nghìn tấn, tăng 7,6% (+ 4,4 nghìn tấn) so với năm 2021 và đạt 110,5% kế hoạch năm. Trong đó: sản lượng thịt trâu hơi ước đạt 1,0 nghìn tấn, tăng 1,6%; sản lượng thịt bò hơi ước đạt 2,6 nghìn tấn, tăng 3,2%; sản lượng thịt lợn hơi đạt 42,7 nghìn tấn, tăng 8,6% và đạt 105,9% kế hoạch năm; sản lượng thịt gia cầm hơi ước đạt 14,9 nghìn tấn, tăng 5,4%. Sản lượng trứng ước đạt 168 triệu quả, tăng 7,7% (+ 12 triệu quả) so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình dịch bệnh: Những tháng đầu năm 2022 tình hình chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định khi dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát tốt, các cơ sở chăn nuôi có điều kiện mở rộng quy mô chăn nuôi, tập trung tái đàn. Từ cuối tháng Tư dịch bệnh có xu hướng diễn biến phức tạp, tái phát trở lại trên địa bàn 8 huyện, thành phố. Trước tình hình đó Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh đã chỉ đạo Chi cục Chăn nuôi và Thú y phối hợp với các địa phương kiểm soát chặt chẽ công tác kiểm dịch kiểm soát con giống xuất, nhập ra vào địa bàn tỉnh; công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, duy trì điều kiện giết mổ tại các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ; hướng dẫn các cơ sở chăn nuôi vệ sinh phòng bệnh... Sang quý 3/2022, dịch tả lợn châu Phi có xu hướng giảm và đến ngày 21/9/2022, dịch tả lợn châu Phi đã được khống chế hoàn toàn. Tuy nhiên, từ giữa tháng 12/2022 tại xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình có 2 hộ nuôi lợn bị dịch tả lợn châu Phi với số lợn tiêu hủy là 2 con. Tính chung trên địa bàn tỉnh từ ngày 01/01/2022 đến nay tổng số lợn ốm, chết phải tiêu hủy bắt buộc do dịch tả lợn châu Phi là 13.894 con, tổng trọng lượng tiêu hủy trên 636,3 tấn.

Trong năm vẫn còn xuất hiện rải rác một vài ổ dịch cúm gia cầm ở các hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Tổng số gia cầm phải tiêu huỷ là 34.724 con. Đến thời điểm hiện tại các ổ dịch đã được bao vây khống chế, trên địa bàn tỉnh không xuất hiện ổ dịch mới.

6.2. Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp năm 2022 tập trung chủ yếu vào công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ, phòng chống cháy rừng và khai thác gỗ từ diện tích rừng trồng đến kỳ khai thác.

Năm 2022, diện tích rừng trồng mới sơ bộ đạt 269 ha, tăng 21,2% (+ 47 ha) so với năm 2021. Trong đó, rừng sản xuất trồng mới sau khai thác đạt 260 ha, tăng 41,3% (+ 76 ha) chủ yếu là cây thân gỗ trồng tại huyện Nho Quan; Diện tích rừng phòng hộ trồng mới đạt 5 ha, giảm 84,8% (- 28 ha); Diện tích rừng đặc dụng trồng mới thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư Vân Long trồng được 4,0 ha, giảm 20,0% (- 1,0 ha). Số cây phân tán trong năm sơ bộ đạt 628,0 nghìn cây, tăng 8,0% (+ 46,5 nghìn cây) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng gỗ khai thác năm 2022 sơ bộ đạt 23,0 nghìn m3, giảm 9,4% (- 2,4 nghìn m3) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác ước đạt 25,6 nghìn ste, giảm 14,1% (- 4,2 nghìn ste).

Diện tích rừng được chăm sóc ước đạt 990,8 ha, giảm 10,6% (- 117,6 ha); diện tích rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh ước đạt 7,08 ha, tăng 16,5% (+ 1,0 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ ước đạt 11.959,6 ha, tương đương với năm trước. Trong năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy rừng vào cuối tháng Tư tại xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp với diện tích khoảng 610 m2 chủ yếu là cháy lớp thảm thực vật, đã sớm phát hiện và dập tắt kịp thời.

6.3. Thủy sản

Năm 2022, ngành Thủy sản tích cực ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật vào việc thâm canh, đầu tư mở rộng sản xuất, đặc biệt là phát triển các đối tượng nuôi thủy sản đặc sản góp phần nâng cao sản lượng thủy sản.

Trong năm, dịch Covid-19 được kiểm soát tốt, nhu cầu tiêu thụ thủy sản tăng cao do các nhà hàng, quán ăn hoạt động trở lại, giá các mặt hàng thủy sản cũng tăng hơn năm trước, do vậy người nuôi yên tâm mở rộng đầu tư sản xuất. Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2022 sơ bộ đạt 15,3 nghìn ha, tăng 1,8% (+ 0,3 nghìn ha) so với năm 2021, trong đó: diện tích nuôi nước lợ đạt 4,1 nghìn ha, tăng 3,1%, diện tích nuôi nước ngọt đạt 11,2 nghìn ha tăng 1,3%. Diện tích nuôi theo phương thức thâm canh, bán thâm canh sơ bộ đạt 3,0 nghìn ha, tăng 1,5%.

Sản lượng thuỷ sản năm 2022 ước đạt 65,9 nghìn tấn, tăng 5,3% (+ 3,3 nghìn tấn), chia ra: sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước đạt 59,3 nghìn tấn, tăng 5,9%; sản lượng thuỷ sản khai thác ước đạt 6,6 nghìn tấn, giảm 0,3%. Trong đó: cá ước đạt 36,1 nghìn tấn, tăng 3,3% (+ 1,2 nghìn tấn); tôm ước đạt 3,7 nghìn tấn, tăng 14,0% (+ 0,4 nghìn tấn); thủy sản khác ước đạt 26,1 nghìn tấn, tăng 6,9%    (+ 1,7 nghìn tấn). Việc mở rộng mô hình nuôi tôm thâm canh công nghệ cao, nuôi tôm siêu thâm canh đã làm sản lượng tôm năm 2022 tăng mạnh, trong đó sản lượng tôm sú ước đạt 0,5 nghìn tấn, tăng 7,3 %; sản lượng tôm thẻ ước đạt 2,5 nghìn tấn, tăng 19,7%.

6.4. Công tác xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tiếp tục được quan tâm chỉ đạo thực hiện.

Lũy kế đến hết năm 2022, toàn tỉnh có 119/119 xã đạt chuẩn nông thôn mới (đạt tỷ lệ 100%); 17 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 13 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao đã được thẩm định, đang hoàn thiện hồ sơ; 11 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và 03 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu đã được thẩm định, đang hoàn thiện hồ sơ; có 07 huyện, thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; huyện Kim Sơn đang hoàn thiện các tiêu chí để xét công nhận đạt chuẩn nông thôn mới trong thời gian tới.

7. Sản xuất công nghiệp

Những tháng đầu năm 2022, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, một số nước vẫn thực hiện chính sách zero-Covid dẫn tới hoạt động thương mại bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cuộc xung đột giữa Nga-Ukraina tác động tiêu cực tới chuỗi cung ứng nguyên nhiên vật liệu toàn cầu, việc nhập khẩu nguyên liệu đầu vào và tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của của các cấp chính quyền, nhiều biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế được triển khai đồng bộ, có hiệu quả toàn diện trên các lĩnh vực, đặc biệt chú trọng công tác hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp duy trì và phát triển, đẩy mạnh sản xuất, nhờ đó sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn  duy trì mức tăng trưởng khá so với năm trước.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn tỉnh tháng Mười hai năm nay ước tính tăng 7,67% so với cùng tháng năm trước, trong đó khai khoáng giảm 1,04%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,44%; sản xuất và phân phối điện tăng 16,47%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,88%.

So với tháng trước (tháng 11/2022), chỉ số IIP toàn tỉnh tháng này tăng 5,64%, trong đó ngành khai khoáng tăng 11,60%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,94%; sản xuất và phân phối điện giảm 2,22%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,86%.

Tính chung lại cả năm 2022 chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh tăng 4,10%, trong đó ngành khai khoáng giảm 7,63%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,50%; sản xuất và phân phối điện giảm 4,39%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,20%.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): Giá trị sản xuất công nghiệp tháng Mười hai toàn tỉnh ước đạt 9.247,2 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng tháng năm trước. Trong đó: khai khoáng đạt 39,9 tỷ đồng, giảm 0,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 9.089,4 tỷ đồng, tăng 10,9%; sản xuất, phân phối điện đạt 92,3 tỷ đồng, tăng 8,0%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải đạt 25,6 tỷ đồng, tăng 4,7%.

Tính chung lại, giá trị sản xuất cả năm 2022 toàn tỉnh đạt 99.560,2 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khai khoáng đạt 523,4 tỷ đồng, giảm 5,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 97.716,5 tỷ đồng, tăng 7,4%; sản xuất, phân phối điện đạt 1.017,4 tỷ đồng, giảm 2,5%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải đạt 302,9 tỷ đồng, tăng 5,6%.

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu: Trong tháng Mười hai năm 2022 một số sản phẩm công nghiệp tăng khá so với cùng tháng năm trước như: ngô ngọt đóng hộp 0,2 nghìn tấn, tăng 34,2%; nước dứa tươi 0,1 triệu lít, tăng 80,7%; thức ăn gia súc 3,3 nghìn tấn, tăng 18,4%; găng tay 0,4 triệu đôi, tăng 6,5%; linh kiện điện tử 8,0 triệu cái, gấp 2,0 lần; tai nghe điện thoại di động 0,9 triệu cái, gấp 2,4 lần; xe ô tô 5 chỗ ngồi trở lên 5,7 nghìn chiếc, tăng 14,8%; xe ô tô chở hàng hóa 0,8 nghìn chiếc, tăng 48,5%; đồ chơi hình con vật 1,2 triệu con, tăng 34,7%; điện sản xuất 71,7 triệu kwh, tăng 30,6%, nước máy thương phẩm 2,4 triệu m3, tăng 9,8%... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có mức sản xuất giảm sút như: dứa đóng hộp 0,8 nghìn tấn, giảm 16,9%; nước khoáng không có ga 0,4 triệu lít, giảm 11,8%; quần, áo các loại 5,5 triệu cái, giảm 53,1%; giày, dép các loại 5,9 triệu đôi, giảm 6,6%; phân Ure 32,6 nghìn tấn, giảm 6,3%; phân NPK 10,0 nghìn tấn, giảm 18,0%; phân lân nung chảy 12,6 nghìn tấn, giảm 10,6%; xi măng 0,6 triệu tấn, giảm 14,9%; clanke 95,0 nghìn tấn, giảm 64,6%; thép cán các loại 15,0 nghìn tấn, giảm 23,9%; modul camera 25,5 triệu cái, giảm 28,2%; kính máy ảnh 0,1 triệu cái, giảm 60,6%; điện thương phẩm 0,2 tỷ kwh, giảm 5,0%…

Tính chung lại, cả năm 2022 các sản phẩm công nghiệp có sản lượng sản xuất tăng khá so với năm 2021 là: dứa đóng hộp 11,7 nghìn tấn, tăng 14,9%; nước dứa tươi 3,8 triệu lít, tăng 58,0%; thức ăn gia súc 30,1 nghìn tấn, tăng 29,4%; hàng thêu 2,1 triệu m2, tăng 60,8%; giày, dép các loại 69,7 triệu đôi, tăng 7,4%; dược phẩm 95,1 triệu viên, tăng 91,0%; modul camera 315,4 triệu cái, tăng 8,4%; xe ô tô chở hàng hóa 10,9 nghìn chiếc, tăng 47,4%; đồ chơi hình con vật 20,9 triệu con, tăng 32,2%... Tuy nhiên, một số sản phẩm lại có mức sản xuất giảm sút: đá các loại 3,4 triệu m3, giảm 7,2%; ngô ngọt đóng hộp 2,6 nghìn tấn, giảm 9,4%; quần, áo các loại 93,1 triệu cái, giảm 4,1%; phân Ure 0,4 triệu tấn, giảm 12,9%; phân NPK 97,2 nghìn tấn, giảm 22,1%; xi măng 7,2 triệu tấn, giảm 5,1%; clanke 1,7 triệu tấn, giảm 46,2%; linh kiện điện tử 106,0 triệu cái, giảm 20,6%; kính máy ảnh 1,2 triệu cái, giảm 45,9%; xe ô tô 5 chỗ ngồi trở lên 54,7 nghìn chiếc, giảm 13,3%; điện sản xuất 0,6 tỷ kwh, giảm 6,9%...

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Do khó khăn trong tìm thị trường tiêu thụ đầu ra nên dự tính tháng Mười hai năm nay chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 41,4% so với tháng 12/2021. Trong đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao như: sản xuất trang phục tăng 97,17%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa gấp gần 50,0 lần; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy gấp 4,2 lần; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học gấp 2,3 lần; sản xuất xe có động cơ tăng 51,42%... Bên cạnh đó, cũng có mốt ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 72,33%; sản xuất da và các sảm phẩm có liên quan giảm 38,83%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 39,06%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 12,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 2,83%; sản xuất thiết bị điện giảm 88,65%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 40,0%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 42,68%.

Số lượng tồn kho đến 30/11/2022 của một số sảnh phẩm là: giày, dép 1,5 triệu đôi; đạm Ure 23,3 nghìn tấn; phân NPK 32,1 nghìn tấn; phân lân nung chảy 22,8 nghìn tấn; kính xây dựng 76,3 nghìn tấn; xi măng 17,1 nghìn tấn; thanh, que sắt hoặc thép không hợp kim, được cán nóng 19,6 nghìn tấn; bản vi mạch điện tử 18,0 triệu chiếc; camera và linh kiện điện tử 14,7 triệu cái; xe ô tô từ 5 chỗ ngồi trở lên 1.135 chiếc...

8. Thương mại, dịch vụ

Sau hai năm liền chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19, trước tình hình dịch Covid-19 đã được kiểm soát trong cả nước cũng như trên địa bàn tỉnh, nền kinh tế được mở cửa hoàn toàn, các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra bình thường, hoạt động thương mại, dịch vụ của tỉnh trong năm 2022 từng bước phục hồi và phát triển mạnh, nhất là lĩnh vực du lịch đã có bước phát triển đột phá cả về chất và lượng.

8.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao sau đại dịch Covid-19 là nguyên nhân chính tác động làm doanh thu bán lẻ hàng hoá trên địa bàn tỉnh trong tháng Mười hai và cả năm tăng cao so với cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ hàng hoá trong tháng Mười hai ước đạt trên 4.065,2 tỷ đồng, tăng 91,3% so với tháng 12 năm 2021. Trong năm 2022, doanh thu bán lẻ hàng hóa toàn tỉnh ước thực hiện gần 39.069,9 tỷ đồng, tăng 71,6% so với năm 2021. Tất cả các nhóm hàng đều có tổng mức bán lẻ tăng cao, cụ thể: nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 11.649,2 tỷ đồng, tăng 50,2%; hàng may mặc 2.988,4 tỷ đồng, gấp 2,6 lần; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình 4.211,7 tỷ đồng, tăng 87,3%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục 528,6 tỷ đồng, gấp 2,8 lần; gỗ và vật liệu xây dựng 7.982,9 tỷ đồng, gấp 2,0 lần; ô tô các loại (dưới 9 chỗ ngồi) 3.573,5 tỷ đồng, tăng 28,9%; phương tiện đi lại (trừ ô tô kể cả phụ tùng) 1.247,2 tỷ đồng, tăng 78,2%; xăng, dầu các loại 4.268,2 tỷ đồng, tăng 55,4%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) 404,1 tỷ đồng, tăng 99,2%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm 349,2 tỷ đồng, gấp 2,3 lần; hàng hoá khác 793,7 tỷ đồng, gấp 2,1 lần; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 1.073,2 tỷ đồng, tăng 93,8%.

Du lịch phát triển mạnh mẽ, lượng khách du lịch đến Ninh Bình tăng đột biến kéo theo doanh thu ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tăng trưởng cao. Trong tháng Mười hai, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống toàn tỉnh ước đạt 570,5 tỷ đồng, gấp 3,0 lần so với cùng kỳ, doanh thu du lịch lữ hành 0,5 tỷ đồng (trong khi tháng 12 năm trước các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ du lịch lữ hành tạm ngừng hoạt động). Tính chung cả năm, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt gần 4.978,0 tỷ đồng, gấp gần 2,2 lần năm 2021 (trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 520,9 tỷ đồng, gấp 2,1 lần; doanh thu dịch vụ ăn uống 4.457,1 tỷ đồng, gấp 2,2 lần); doanh thu du lịch lữ hành gần 4,0 tỷ đồng, gấp gần 4,1 lần. Doanh thu một số ngành dịch vụ khác trong tháng Mười hai ước thực hiện 479,2 tỷ đồng, tăng 84,3% so với tháng 12/2021; tính chung cả năm ước thực hiện 4.651,3 tỷ đồng, tăng 33,0%.

8.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát, các hoạt động kinh tế đã được khôi phục trở lại, tuy nhiên một số nước vẫn thực hiện chính sách Zero-Covid dẫn tới hoạt động thương mại bị ảnh hưởng nghiêm trọng; lạm phát gia tăng ở nhiều khu vực thị trường, nguy cơ suy thoái kinh tế, nhất là tại EU, Mỹ và Trung Quốc là những thị trường xuất khẩu lớn, quan trọng của Việt Nam. Đây là những khó khăn, thách thức không nhỏ đối với hoạt động xuất nhập khẩu của cả nước nói chung và của tỉnh nói riêng. Mặc dù vậy, với việc triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, các biện pháp hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị xuất nhập khẩu, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh năm 2022 vẫn duy trì đà tăng trưởng. Ước tính tổng giá trị xuất, nhập khẩu cả năm đạt 6.500,5 triệu USD, tăng 5,7% (+ 351 triệu USD) so với năm 2021.

Xuất khẩu: Tổng giá trị xuất khẩu cả năm ước đạt trên 3.182,0 triệu USD, vượt 13,6% kế hoạch năm và tăng 7,7% so với năm trước. Một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn là: quần áo các loại đạt 400,9 triệu USD; xi măng, clanke đạt 515,1 triệu USD; giày dép các loại đạt 915,2 triệu USD; camera và linh kiện 861,1 triệu USD; linh kiện điện tử 87,1 triệu USD…

Trong năm, một số mặt hàng xuất khẩu đạt khá so với năm trước như: nước dứa cô đặc 2,6 nghìn tấn, gấp 2,1 lần; quần áo các loại 83,7 triệu chiếc, tăng 16,9%; thảm cói 118,4 nghìn m2, gấp 9,5 lần; giày dép các loại 80,7 triệu đôi, tăng 28,5%; găng tay 4,9 triệu đôi, tăng 9,5%; phôi nhôm 19,6 nghìn tấn, tăng 32,3%; đồ chơi trẻ em 12,9 triệu chiếc, tăng 32,5%; phân ure 75,3 tấn, tăng 14,8%... Tuy nhiên một số sản phẩm lại có mức xuất khẩu giảm sút như: xi măng, clanke 11,7 triệu tấn, giảm 21,0%; kính quang học 1,1 triệu chiếc, giảm 42,9%; sản phẩm cói khác 1,5 triệu sản phẩm, giảm 29,0%; hàng thêu ren 152,2 nghìn sản phẩm, giảm 8,5%; dứa, dưa chuột đóng hộp 16,1 nghìn tấn, giảm 10,7%; túi nhựa 1,8 nghìn tấn, giảm 8,6%...

Nhập khẩu: Tổng giá trị nhập khẩu năm 2022 ước đạt 3.318,5 triệu USD, đạt 107,0% kế hoạch năm và tăng 3,9% so với năm 2021. Trong đó, giá trị các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: linh kiện phụ tùng ô tô các loại 1.090,2 triệu USD; linh kiện điện tử 963,7 triệu USD; phụ liệu sản xuất giày dép 561,9 triệu USD; ô tô 248,3 triệu USD; vải và phụ liệu may 143,9 triệu USD.

Dự báo tình hình xuất nhập, khẩu sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong những tháng đầu năm 2023.

8.3. Vận tải hành khách và hàng hóa

Hoạt động vận tải, kho bãi có bước phục hồi tích cực ở tất cả các lĩnh vực đặc biệt là vận tải hành khách khi các tuyến xe khách liên tỉnh được phép hoạt động trở lại, vận tải hành khách đường thuỷ chủ yếu phục vụ khách du lịch nên đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng so với cùng kỳ khi số lượng khách du lịch đến Ninh Bình tăng cao; vận tải hàng hóa tăng nhanh cùng với sự khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh.

Vận tải hành khách: Thực hiện trong tháng Mười hai ước đạt trên 3,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 95,5% so với cùng kỳ và luân chuyển gần 162,6 triệu lượt khách.km, tăng 90,7%. Tính chung cả năm 2022, khối lượng hành khách vận chuyển ước thực hiện trên 28,7 triệu lượt khách, tăng 69,7% so với năm 2021. Trong đó, chủ yếu là vận tải đường bộ ước đạt 24,3 triệu lượt khách, tăng 54,4%; vận tải đường thủy 4,4 triệu lượt khách, gấp 3,7 lần. Khối lượng luân chuyển hành khách ước thực hiện trên 1.439,9 triệu lượt khách.km, vượt 19,3% kế hoạch năm, tăng 56,5% so với năm trước. Trong đó: vận tải đường bộ ước đạt 1.422,8 triệu lượt khách.km, tăng 55,5%; vận tải đường thủy 17,1 triệu lượt khách.km, gấp 3,7 lần.   

Vận tải hàng hóa: Trong tháng Mười hai ước thực hiện trên 9,0 triệu tấn vận chuyển, tăng 77,8% so với tháng 12/2021 và luân chuyển 1.138,6 triệu tấn.km, tăng 69,9%. Ước tính cả năm 2022, khối lượng hàng hoá vận chuyển toàn tỉnh đạt gần 75,4 triệu tấn, tăng 44,3% và luân chuyển 9.730,9 triệu tấn.km, vượt 24,8% kế hoạch năm, tăng 37,7% so với năm trước. Trong đó: vận tải đường bộ ước thực hiện 36,6 triệu tấn, tăng 38,7% và 1.770,1 triệu tấn.km, tăng 31,8%; vận tải đường thủy nội địa 36,8 triệu tấn, tăng 51,7% và 6.881,8 triệu tấn.km, tăng 42,1%; vận tải đường biển 2,0 triệu tấn, tăng 24,1% và 1.079,0 triệu tấn.km, tăng 22,9%.

Doanh thu vận tải: Doanh thu vận tải toàn tỉnh trong tháng Mười hai ước thực hiện trên 1.072,3 tỷ đồng, tăng 75,7%. Tính chung cả năm, doanh thu hoạt động vận tải ước đạt gần 9.341,6 tỷ đồng, tăng 47,6% so với năm 2021. Phân theo loại hình vận tải: vận tải hành khách ước đạt 1.363,9 tỷ đồng, vượt 60,5% kế hoạch năm và tăng 74,9%; vận tải hàng hóa 7.710,0 tỷ đồng, vượt 31,8% kế hoạch năm và tăng 43,7%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải 261,3 tỷ đồng, tăng 48,2%; doanh thu bưu chính, chuyển phát 6,4 tỷ đồng, tăng 24,6%.

8.4. Hoạt động du lịch

Sau thời gian 02 năm chịu tác động nặng nề của dịch Covid-19, hoạt động du lịch trong nước nói chung và của tỉnh nói riêng bị chững lại, sang năm 2022, hoạt động du lịch có bước phục hồi và phát triển trở lại, nhất là sau quyết định mở cửa trở lại đối với khách du lịch quốc tế (từ ngày 15/3/2022). Thực hiện Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ ban hành quy định tạm thời "Thích ứng, an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19", ngành Du lịch của tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ như đẩy mạnh công tác truyền thông, quảng bá; nâng cao chất lượng dịch vụ; nghiên cứu bổ sung sản phẩm du lịch mới; đào tạo nhân lực,… Do đó số lượng du khách đến các điểm thăm quan du lịch trên địa bàn tỉnh đã tăng trở lại.

Ước tính tổng số lượng khách đến các điểm thăm quan, du lịch tại các điểm du lịch trên địa bàn toàn tỉnh tháng Mười hai đạt 305,9 nghìn lượt khách, gấp 4,7 lần; số lượt khách đến các cơ sở lưu trú đạt gần 100,0 nghìn lượt khách, gấp gần 6,0 lần; số ngày khách lưu trú ước đạt 134,7 nghìn ngày khách, gấp gần 5,9 lần. Doanh thu du lịch trong tháng ước đạt gần 423,8 tỷ đồng, gấp gần 8,9 lần so với năm trước.

Tính chung lại, tổng số lượng khách đến các điểm thăm quan, du lịch trên địa bàn toàn tỉnh năm nay đạt gần 3.715,3 nghìn lượt, gấp 3,6 lần so với năm 2021, vượt 48,6% so với kế hoạch năm. Chia ra: khách trong nước đạt 3.614,0 nghìn lượt, gấp 3,6 lần; khách quốc tế 101,3 nghìn lượt, gấp 3,5 lần. Số lượt khách đến các cơ sở lưu trú đạt 876,7 nghìn lượt khách, gấp 4,0 lần; số ngày khách lưu trú ước đạt trên 1.215,9 nghìn ngày khách, gấp 4,2 lần. Doanh thu du lịch cả năm ước thực hiện gần 3.207,6 tỷ đồng, gấp trên 4,6 lần so với năm trước, vượt 81,7% kế hoạch năm. Trong đó: doanh thu lưu trú ước thực hiện gần 520,5 tỷ đồng, gấp gần 3,4 lần; doanh thu nhà hàng 1.408,3 tỷ đồng, gấp gần 5,5 lần.

9. Một số vấn đề xã hội

Năm 2022, với sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của các cấp ủy Đảng, Chính quyền trong việc thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng chống dịch Covid-19, tập trung thực hiện các chương trình, đề án chính sách về lao động, giải quyết việc làm, trợ giúp xã hội, giảm nghèo..., nhất là các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, người lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện và nâng lên; công tác an sinh xã hội được đảm bảo; công tác giáo dục, y tế tiếp tục được quan tâm. Trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Trong năm, đã tổ chức thành công nhiều sự kiện văn hóa, chính trị quan trọng trên địa bàn tỉnh mang tầm quốc gia, quốc tế.

9.1. Lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2022 tỉnh Ninh Bình sơ bộ đạt 1.010,8 nghìn người, tăng 0,3%  (+ 3,2 nghìn người) so với năm 2021, chia ra: dân số nam 505,7 nghìn người, chiếm 50,03%; dân số nữ 505,1 nghìn người, chiếm 49,97%. Dân số thành thị 218,4 nghìn người, chiếm 21,61%; dân số nông thôn 792,4 nghìn người, chiếm 78,39%.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trên địa bàn tỉnh năm 2022 ước tính 489,5 nghìn người, tăng 0,5% so với năm trước. Chia ra, khu vực thành thị 101,6 nghìn người, chiếm 20,8%; khu vực nông thôn 387,9 nghìn người, chiếm 79,2%.

Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế năm 2022 ước tính 484,0 nghìn người, tăng 0,5% so với năm 2021. Chia ra: lao động ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản 78,5 nghìn người, tăng 0,3%; lao động ngành công nghiệp, xây dựng 225,1 nghìn người, tăng 0,5%; lao động ngành dịch vụ 180,4 nghìn người, tăng 0,5%.

Trong năm, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 20,5 nghìn lao động, trong đó xuất khẩu lao động gần 1,6 nghìn trường hợp; tổ chức đào tạo nghề cho 17,5 nghìn lao động; tư vấn, tư vấn giới thiệu việc làm cho 30,0 nghìn lao động.

Thực hiện Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 01/7/2021; Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, ngày 07/7/2021; Nghị quyết 126/NQ-CP ngày 08/10/2021 và Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg ngày 06/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ về các chính sách hỗ trợ người lao động và hộ kinh doanh cá thể đang gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Tính đến ngày 12/12/2022 toàn tỉnh đã hỗ trợ cho 30.151 đối tượng, với số tiền là 43.656,3 triệu đồng, trong đó: hộ kinh doanh cá thể 224 đối tượng với số tiền là 672 triệu đồng; lao động tự do 8.434 đối tượng với số tiền là 12.651 triệu đồng; người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương là 887 đối tượng, với số tiền là 3.911,5 triệu đồng; lao động ngừng việc là 4.863 đối tượng với số tiền là 7.325 triệu đồng; hướng dẫn viên du lịch là 106 đối tượng với số tiền là 393,3 triệu đồng; người điều trị Covid-19 và người cách ly y tế 15.637 đối tượng, với số tiền 18.703,6 triệu đồng. Hỗ trợ 05 đơn vị sử dụng lao động được vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất với số tiền gần 1.925 triệu đồng. Giảm mức đóng quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho 107,5 nghìn lao động thuộc 2.747 đơn vị với tổng số tiền 29.560 triệu đồng. Giải quyết cho 01 đơn vị được tạm dừng đóng quỹ hưu trí và tử tuất với 67 lao động được miễn giảm và số tiền được miễn giảm là 362 triệu đồng.

 9.2. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Công tác an sinh xã hội, giảm nghèo luôn được quan tâm thực hiện, các chính sách đã đến được với người dân, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số đã từng bước tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, công tác giảm nghèo đã đạt được kết quả tốt. Các chính sách cụ thể, thiết thực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần giúp các hộ nghèo phát triển kinh tế và vươn lên thoát nghèo bền vững như: sửa chữa, xây mới về nhà ở, cấp phát thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, hỗ trợ tiền điện sinh hoạt cho hộ nghèo, hỗ trợ vay vốn ưu đãi, đào tạo nghề….  

Trong năm đã thực hiện hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho gần 540,8 nghìn đối tượng là hộ nghèo, cận nghèo, các đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, trẻ em dưới 6 tuổi, học sinh, sinh viên và hộ nông, lâm, ngư có mức sống trung bình; giải quyết cho 4.915 lượt đối tượng là hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để phát triển sản xuất, với tổng kinh phí là 293,0 tỷ đồng; giải quyết cho 12.400 hộ được vay vốn xây dựng nước sạch và vệ sinh môi trường với tổng kinh phí 248,0 tỷ đồng; 170 hộ được vay vốn nhà ở xã hội với tổng kinh phí 70 tỷ đồng; 2.270 lượt học sinh, sinh viên được vay vốn với tổng kinh phí 53,4 tỷ đồng.

Công tác bảo trợ xã hội và đền ơn đáp nghĩa cũng được thường xuyên quan tâm thực hiện. Trong năm, các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư đã động viên thăm hỏi, tặng quà cho các gia đình chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, các đối tượng bảo trợ xã hội...với tổng số kinh phí 97.984,3 triệu đồng, tặng cho 282.197 đối tượng. Trong đó: 198.437 lượt đối tượng là gia đình chính sách, người có công với cách mạng, với tổng kinh phí 60.151 triệu đồng; 24.402 lượt đối tượng là người cao tuổi, với tổng kinh phí 8.537,1 triệu đồng; 51.080 lượt đối tượng là hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khó khăn, với tổng kinh phí 22.945,4 triệu đồng; 897 đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, với tổng kinh phí 478,2 triệu đồng; 1.434 đối tượng bảo trợ xã hội, với tổng kinh phí 599 triệu đồng.

9.3. Giáo dục, đào tạo

Trong năm 2022, ngành giáo dục Ninh Bình đã khắc phục được khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác với tinh thần chủ động, linh hoạt, thích ứng để hoàn thành chương trình năm học 2021-2022 đúng kế hoạch. Quy mô trường lớp các cấp học tiếp tục được duy trì ổn định, toàn tỉnh có 453/469 trường học đạt chuẩn quốc gia chiếm tỷ lệ 96,6%; 141/143 xã, phường, thị trấn có 100% trường Mầm non, trường Tiểu học, trường Liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở công lập đều đạt chuẩn quốc gia. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đủ về số lượng, chất lượng ngày càng được nâng lên, cơ sở vật chất tiếp tục được tăng cường, tỷ lệ phòng học kiên cố toàn ngành đạt 88,8% (tăng 0,4% so với năm trước). Chất lượng giáo dục toàn diện đảm bảo ổn định và nâng cao hơn. Kết quả cụ thể:

Kết quả kỳ thi THPT năm 2022: tỉnh Ninh Bình tiếp tục khẳng định chất lượng giáo dục, đào tạo ổn định, vững chắc. Tỷ lệ tốt nghiệp đạt 99,49% (khối
trường THPT đạt 99,71%, khối GDTX đạt 97,85%); điểm trung bình các môn thi đạt 6,98 điểm, cao thứ Hai so với toàn quốc. Có 471 thí sinh đạt từ 27 điểm trở lên; 65 thí sinh đạt từ 28 điểm trở lên; và 07 thí sinh đạt từ 29 điểm trở lên; toàn tỉnh có 169 điểm 10, có 01 thí sinh đạt thủ khoa điểm thi tốt nghiệp cả nước.

Kết quả thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia THPT năm học 2021- 2022: có 45/68 học sinh ở 10 đội tuyển dự thi đạt giải, chiếm tỷ lệ 66,2%, tăng 12 giải so với năm học trước; trong đó có 01 giải Nhất (môn Địa lý), 03 giải Nhì, 19 giải Ba, 22 giải Khuyến khích. Các đội Hóa học, Địa lý có 100% học sinh tham gia dự thi đạt giải.

Kết quả đoàn tuyển tham gia Hội thi học sinh giỏi các trường THPT chuyên Khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc bộ lần thứ XIII: có 55/60 học sinh đạt giải (đạt tỷ lệ 91,7%) gồm: 07 huy chương Vàng, 11 huy chương Bạc, 21 huy chương Đồng và 16 giải Khuyến khích.

Kết quả tham dự các cuộc thi cấp quốc gia khác: Kỳ thi Olympic Toán học sinh viên và học sinh Việt Nam, có 8/10 học sinh đoạt giải, chiếm tỷ lệ 80%, trong đó có 01 giải Nhì và 7 giải Ba; cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia năm học 2021-2022 dành cho học sinh THPT có 02 Dự án đạt giải Ba; cuộc thi vẽ tranh Quốc tế Toyota chủ đề “Chiếc ô tô mơ ước” lần thứ 11 đạt 02 giải Nhì và 03 giải Khuyến khích; giải Điền kinh học sinh phổ thông toàn quốc năm 2022, đạt 11 huy chương gồm 07 huy chương Vàng, 01 huy chương Bạc và 03 huy chương Đồng…

Công tác khuyến học, khuyến tài tiếp tục được quan tâm. Trong năm, Quỹ khuyến học, khuyến tài Đinh Bộ Lĩnh đã tổ chức trao thưởng cho 298 em học sinh, sinh viên đạt thành tích cao trong các cuộc thi cấp quốc gia, quốc tế; thi tốt nghiệp THPT quốc gia; xét tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng; thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT, với tổng trị giá các giải thưởng là 1.353 triệu đồng.

 9.4. Hoạt động Y tế

Năm 2022, ngành Y tế đã bám sát và triển khai thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh về công tác y tế, phòng chống dịch bệnh, nhất là các loại dịch bệnh truyền nhiễm như Covid-19, dịch sốt xuất huyết,... Bên cạnh đó đẩy mạnh truyền thông, giáo dục sức khỏe, giữ gìn vệ sinh môi trường, tiêm chủng vắc xin, phòng chống dịch bệnh; tăng cường thanh tra, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, nhất là trong các sự kiện quan trọng của tỉnh như tổ chức lễ hội, lễ kỷ niệm.

Trong năm, các đoàn thanh, kiểm tra về an toàn thực phẩm đã kiểm tra 5.708 lượt cơ sở, phát hiện 457 cơ sở vi phạm, trong đó xử phạt hành chính 269 cơ sở vi phạm với tổng số tiền là 934,8 triệu đồng.

Tính đến hết tháng 11 năm nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ ngộ độc thực phẩm làm 44 người bị ngộ độc và 168 ca ngộ độc thực phẩm lẻ tẻ, không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm; có 252 ca sốt xuất huyết; 122 ca chân tay miệng; 44 ca thủy đậu... Tại các cơ sở y tế đã khám chữa bệnh cho 1.120 nghìn lượt, điều trị nội trú 152 nghìn lượt; khám thai cho 40,2 nghìn lượt; đặt dụng cụ tử cung cho 3.217 ca; triệt sản 93 ca.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                

Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong 11 tháng, trên địa bàn tỉnh phát hiện mới 45 người nhiễm HIV, có 20 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy tích số người nhiễm HIV trên địa bàn toàn tỉnh là 2.894 người, số trường hợp tử vong do AIDS là 1.325 người.

Tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh: tính từ khi có dịch đến 15h00 ngày 24/12/2022, trên địa bàn tỉnh có 107.143 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2, trong đó đã điều trị khỏi và xuất viện 106.985 trường hợp; đang điều trị 20 trường hợp; chuyển Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương 31 trường hợp; tử vong 107 trường hợp (trong đó có 03 ca của tính khác). Tổng số trường hợp được cách ly và giám sát cộng dồn là 328.299 trường hợp (cách ly tại cơ sở y tế là 28.229 trường hợp; cách ly y tế tại cơ sở cách ly tập trung là 29.141 người; cách ly y tế tại nhà và nơi lưu trú là 270.929 người); tổng số mẫu đã lấy 766.869 mẫu, số ca đã xét nghiệm 614.008 ca.

Tình hình triển khai Chiến dịch tiêm vắc xin phòng Covid-19 trên địa bàn: Tính đến ngày 24/12/2022, tỷ lệ tiêm chủng vắc xin cho người từ 18 tuổi trở lên trên địa bàn tỉnh: tỷ lệ bao phủ mũi 1 là 99,90%, mũi 2 là 99,39%, mũi 3 là 93,97%; đối với nhóm đối tượng từ 12-17 tuổi: tỷ lệ bao phủ mũi 1, mũi 2 là 100%, mũi 3 là 79,71% và nhóm đối tượng từ 5- dưới 12 tuổi: tỷ lệ bao phủ mũi 1 là 99,52%, mũi 2 là 87,13%. Toàn tỉnh đã tiêm mũi 4 đạt 100% kế hoạch tiêm chủng và tiêm mũi bổ sung cho 226.900 người.

9.5. Hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động Văn hóa - Thông tin diễn ra với nhiều nội dung và hình thức phong phú, thiết thực chào mừng kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước và những sự kiện trọng đại của tỉnh, như: Kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Đảng 03/02, chào mừng Xuân mới Nhâm Dần 2022; kỷ niệm 200 năm Danh xưng Ninh Bình và 30 năm tái lập tỉnh; chào mừng Lễ hội Hoa Lư năm 2022; chào mừng  kỷ niệm 47 năm Ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2022), Quốc tế lao động 1/5; kỷ niệm 132 năm ngày sinh nhật Bác; Đại hội thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 (SEA Games 31); kỷ niệm 77 năm ngày Quốc khánh đất nước (02/9/1945 - 02/9/2022)...

 Trong năm các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức đa dạng, phong phú, phục vụ nhiệm vụ chính trị và phục vụ Nhân dân, tạo không khí vui tươi phấn khởi nhưng vẫn đảm bảo an toàn về phòng chống dịch bệnh, như: tổ chức liên hoan nghệ thuật quần chúng, liên hoan hát Xẩm, tổ chức Festival, tổ chức triển lãm, tổ chức giao lưu văn nghệ, thể thao...

 Nhà hát chèo đã tổ chức được 253 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ nhân dân; trung tâm Phát hành Phim và Chiếu bóng đã thực hiện 432 buổi chiếu phim, phục vụ trên 67 nghìn lượt người xem. Bảo tàng tỉnh đã đón tiếp và hướng dẫn trên 15 nghìn lượt khách tham quan; Thư viện tỉnh cấp, đổi mới 953 thẻ bạn đọc, luân chuyển gần 667,3 nghìn lượt sách báo, phục vụ 261,0 nghìn lượt người đọc.

Hoạt động thể thao: tiếp tục duy trì đào tạo, huấn luyện nâng cao thành tích cho vận động viên các tuyến tại Trung tâm huấn luyện thể dục thể thao bảo đảm công tác phòng chống dịch Covid-19. Bên cạnh đó, cử các đoàn vận động viên đi thi đấu các giải, đạt được 278 huy chương các loại gồm 95 huy chương Vàng, 72 huy chương Bạc và 111 huy chương Đồng. Trong đó, có 36 huy chương quốc tế, gồm 19 huy chương Vàng, 17 huy chương Đồng và 07 huy chương Đồng. Trong đó, đáng chú ý là thành tích thi đấu của các vận động viên tham dự Sea Games 31 đạt 09 huy chương, gồm: 03 huy chương Vàng, 03 huy chương Bạc, 03 huy chương Đồng.

   Đăng cai tổ chức thành công môn thi đấu Karate thuộc khuôn khổ Đại hội thể thao Đông Nam Á (SEA Games 31); tổ chức thành công giải Bóng chuyền Cúp Hoa Lư Bình Điền lần thứ XVI năm 2022; giải Vô địch cúp các câu lạc bộ Vật dân tộc năm 2022; giải Câu lông các cây vợt thiếu niên trẻ xuất sắc quốc gia năm 2022…

Tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao tỉnh Ninh Bình lần VII năm 2022; các giải thi đấu thể thao quần chúng như: giải Golf Lexus Challenge 2022; giải chạy bộ “Dấu ấn di sản Marathon 2022”; giải chạy “Cúc Phương Jungle Paths năm 2022”; giải Bóng đá Nhi đồng Cúp Phát thanh & Truyền hình tỉnh Ninh Bình năm 2022; giải Bóng bàn các CLB cúp Liên đoàn tỉnh Ninh Bình năm 2022; giải cầu lông các CLB thành phố Ninh Bình; giải Bóng bàn cúp Báo Ninh Bình năm 2022; giải Tràng An Marathon lần thứ II năm 2022; giải Cầu lông, Bóng bàn cán bộ, giáo viên, nhân viên Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình lần thứ XVI năm 2022; giải Cầu lông - Quần vợt Đảng bộ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Ninh Bình năm 2022...

9.6. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Trong năm, lực lượng Công an tỉnh chủ động nắm và kiểm soát tốt tình
hình, huy động tối đa lực lượng, phương tiện bảo đảm ANTT, TTATGT và phòng, chống cháy nổ bảo vệ tuyệt đối an toàn các đoàn khách trong nước và khách quốc tế về dự các sự kiện quan trọng của tỉnh như: Lễ kỷ niệm 200 năm Danh xưng Ninh Bình, 30 năm tái lập tỉnh; Lễ hội Hoa Lư năm 2022, Seagames 31, Lễ kỷ niệm 50 năm Công ước bảo vệ di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới và Festival Tràng An kết nối di sản - Ninh Bình 2022…; đồng thời tập trung thực hiện bảo đảm an ninh, an toàn cho Nhân dân các kỳ nghỉ lễ, tết; tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông (TTATGT), quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp trọng tâm, góp phần giảm tai nạn giao thông (TNGT) trên địa bàn.

Tính từ ngày 15/11/2022 đến 14/12/2022, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 19 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 03 người và bị thương 10 người; xảy ra 66 vụ phạm pháp hình sự; phát hiện 25 vụ buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma túy với 32 đối tượng.

Tính chung lại, từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/12/2022 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 104 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 01 vụ tai nạn giao thông đường sắt làm chết 35 người và bị thương 91 người (giảm 24 vụ, giảm 03 người chết và giảm 14 người bị thương so với cùng kỳ năm 2021); xảy ra 361 vụ phạm pháp hình sự (tăng 15 vụ); phát hiện 316 vụ buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma túy với 378 đối tượng (tăng 10 vụ, giảm 44 đối tượng). Xảy ra 06 vụ cháy, gây thiệt hại ước tính 570 triệu đồng, không có thương vong về người./



[1] Số liệu về tốc độ tăng trưởng GRDP và cơ cấu kinh tế do TCTK tính toán và công bố kỳ 29/11/2022.





CÁC BÀI KHÁC


320495

31
39
320495